Điều 15. Chế độ báo cáo
1. Định kỳ 6 tháng hoặc đột xuất theo yêu cầu của các cơ quan cấp trên, các Sở, ban, ngành cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng báo cáo về tình hình và kết quả thực hiện hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính của cơ quan, đơn vị mình, gửi Sở Tư pháp để tổng hợp, trình Ủy ban nhân dân tỉnh và báo cáo Bộ Tư pháp theo yêu cầu.
2. Thời điểm chốt số liệu báo cáo định kỳ 6 tháng và báo cáo định kỳ 01 năm như sau:
a) Kỳ báo cáo thống kê 6 tháng được tính từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 30 tháng 6 hàng năm, gồm số liệu thống kê thực tế và số liệu thống kê ước tính.
Số liệu thống kê thực tế được lấy từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 30 tháng 4 hàng năm (ngày chốt số liệu thực tế); số liệu thống kê ước tính được lấy từ ngày 01 tháng 5 đến hết ngày 30 tháng 6 hàng năm.
b) Kỳ báo cáo thống kê 01 năm
Kỳ báo cáo thống kê 01 năm được thực hiện hai lần trong năm, bao gồm:
- Báo cáo năm lần một: Thời điểm lấy số liệu thống kê được tính từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12 hàng năm, gồm số liệu thống kê thực tế và số liệu thống kê ước tính.
Số liệu thống kê thực tế được lấy từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 10 hàng năm (ngày chốt số liệu thực tế); số liệu thống kê ước tính được lấy từ ngày 01 tháng 11 đến hết ngày 31 tháng 12 hàng năm.
- Báo cáo năm chính thức: Thời điểm lấy số liệu thống kê được tính từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12 hàng năm (ngày chốt số liệu thực tế).
3. Thời hạn báo cáo hàng năm như sau:
a) Đối với Ủy ban nhân dân cấp xã: báo cáo 6 tháng trước ngày 8/5, báo cáo năm lần 1 trước ngày 8/11, báo cáo năm chính thức trước ngày 20/01;
b) Đối với Ủy ban nhân dân cấp huyện: báo cáo 6 tháng trước ngày 20/5, báo cáo năm lần 1 trước ngày 20/11, báo cáo năm chính thức trước ngày 20/02;
c) Đối với các Sở, ban, ngành cấp tỉnh: báo cáo 6 tháng trước ngày 8/5, báo cáo năm lần 1 trước ngày 8/11, báo cáo năm chính thức trước ngày 20/01;
4. Việc ước tính số liệu báo cáo theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 6 Thông tư số 20/2013/TT-BTP.