Điều 50. Thành lập Hội đồng bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng (gọi tắt là Hội đồng Giải phóng mặt bằng)
1. Hội đồng Giải phóng mặt bằng quận, huyện do Uỷ ban nhân dân thành phố quyết định thành lập, do lãnh đạo Uỷ ban nhân dân quận, huyện làm Chủ tịch Hội đồng và các thành viên Hội đồng gồm đại diện lãnh đạo:
a) Các Ban giải tỏa đền bù các dự án đầu tư xây dựng của thành phố;
b) Chủ đầu tư hoặc Ban quản lý dự án của thành phố;
c) Phòng Tài chính;
d) Phòng Tài nguyên và Môi trường;
đ) Uỷ ban nhân dân phường, xã nơi thực hiện dự án;
e) Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường, xã;
Một số thành viên khác do Chủ tịch Hội đồng giải phóng mặt bằng quyết định cho phù hợp với thực tế ở địa phương.
2. Khi dự án có thu hồi đất trên địa bàn từ 02 quận, huyện trở lên, có diện tích thu hồi đất lớn thì Uỷ ban nhân dân thành phố quyết định thành lâp Hội đồng giải phóng mặt bằng thành phố do lãnh đạo Uỷ ban nhân dân thành phố làm Chủ tịch, các thành viên Hội đồng gồm đại diện lãnh đạo:
a) Các Ban giải tỏa đền bù các dự án đầu tư xây dựng của thành phố;
b) Chủ đầu tư hoặc Ban quản lý dự án;
c) Sở Tài chính;
d) Sở Tài nguyên và Môi trường;
đ) Sở Xây dựng;
e) Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố;
g) Uỷ ban nhân dân quận, huyện có đất bị thu hồi;
h) Uỷ ban nhân dân phường, xã có đất bị thu hồi;
3. Trường hợp dự án có thu hồi đất trên địa bàn 02 quận, huyện trở lên, trên cơ sở phân chia ranh giới của dự án thuộc quận, huyện nào thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận, huyện đó làm Chủ tịch Hội đồng Giải phóng mặt bằng.
Các thành viên khác do Chủ tịch Hội đồng Giải phóng mặt bằng quyết định cho phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương.