Điều 15. Bồi thường, hỗ trợ đất nông nghiệp
1. Đất nông nghiệp không xen lẫn đất ở, được cơ quan có thẩm quyền giao sử dụng lâu dài theo đúng quy định của pháp luật thì người bị thu hồi được bồi thường bằng việc giao đất mới cùng mục đích sử dụng. Nếu không có đất để bồi thường thì bồi thường bằng tiền tính theo giá đất cùng mục đích sử dụng.
2. Đất nông nghiệp xen lẫn trong khu dân cư ổn định (không nằm trong thửa đất ở), ngoài việc được bồi thường theo giá đất cùng mục đích sử dụng còn được hỗ trợ 20% theo giá đất ở tại vị trí thửa đất đó. Diện tích hỗ trợ không quá 05 lần hạn mức giao đất ở, diện tích còn lại bồi thường theo đất nông nghiệp.
3. Đất nông nghiệp Nhà nước giao tạm thời, đất cho thuê, đất đấu thầu sử dụng không được bồi thường về đất mà chỉ hỗ trợ chi phí hợp lý đã đầu tư vào đất còn lại (nếu có). Mức hỗ trợ do Hội đồng bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng kiểm tra, đề xuất Uỷ ban nhân dân thành phố quyết định.
4. Bồi thường 100% theo giá đất nông nghiệp đối với các trường hợp sau:
a) Đất nông nghiệp có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
b) Đất nông nghiệp có giấy tờ do chế độ cũ cấp, không tranh chấp, không thuộc diện đã giao cho người khác do thực hiện các chính sách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
c) Đất nông nghiệp đã sử dụng ổn định trước ngày 15/10/1993, không tranh chấp (không phải là đất thuê).
d) Đất nông nghiệp được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đúng quy định theo bình quân nhân khẩu nông nghiệp.
đ) Đất nông nghiệp có đăng ký theo Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993, có đăng ký trong hồ sơ địa chính xác lập theo Nghị định 60/CP ngày 05/7/1994 nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được Uỷ ban nhân dân phường, xã xác nhận sử dụng trước ngày 15/10/1993 và sử dụng liên tục đến khi thu hồi đất thì bồi thường theo diện tích đã đăng ký.
5. Hỗ trợ theo giá đất nông nghiệp thực tế đang sử dụng trong các trường hợp sau:
a) Đất khai hoang để sản xuất nông nghiệp và sử dụng liên tục từ trước ngày 01/7/2004 cho đến khi thu hồi đất, không có tranh chấp; được UBND phường, xã xác nhận lại thì được hỗ trợ 100% giá đất nông nghiệp, nhưng diện tích hỗ trợ không quá 02 (hai) ha.
b) Đất do nhận chuyển nhượng, cho, tặng nay được Uỷ ban nhân dân phường, xã xác nhận lại thì được hỗ trợ theo giấy tờ của người chuyển nhượng, cho, tặng.
c) Đất công ích (đất 5%, đất Uỷ ban nhân dân xã, phường trực tiếp quản lý giao cá nhân sử dụng): không hỗ trợ.
d) Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi trên 30% (ba mươi phần trăm) diện tích đất nông nghiệp đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu có nguyện vọng được bố trí đất ở thì Hội đồng giải phóng mặt bằng kiểm tra đề xuất Uỷ ban nhân dân thành phố xem xét quyết định bố trí 01 (một) lô đất ở có thu tiền sử dụng đất theo nguyên tắc sau:
- Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi trên 2.000 m2 thì được bố trí 01 lô đất tái định cư theo giá hộ chính.
- Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi từ 1000 m2 đến dưới 2.000 m2 thì được bố trí 01 lô đất tái định cư theo giá hộ phụ.
Nếu diện tích thu hồi thuộc nhiều dự án khác nhau thì diện tích để tính là tổng diện tích thu hồi tại các dự án.
Quy định này chỉ áp dụng đối với diện tích đất nông nghiệp thu hồi từ ngày 01/01/2008 trở đi, không áp dụng đối với diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi trước ngày 01/01/2008.
Các trường hợp nêu tại Điều này nếu thực tế không sử dụng hoặc đất được giao không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng thì không được bồi thường, hỗ trợ về đất, nhưng được hỗ trợ chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có). Mức hỗ trợ do Hội đồng bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng kiểm tra đề xuất Uỷ ban nhân dân thành phố xem xét quyết định.