Điều 5. Cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nhưng không có giấy tờ về quyền sử dụng đất
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 3 và khoản 1, 2 Điều 4 của quy định này được xét cấp GCNQSDĐ khi có đủ các điều kiện sau:
a) Đất không có tranh chấp;
b) Đất đã được sử dụng trước thời điểm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn được xét duyệt;
c) Trường hợp đất được sử dụng sau thời điểm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn được xét duyệt thì phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch đó.
Thời điểm sử dụng đất ở do Hội đồng Đăng ký đất đai cấp xã (do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND xã làm Chủ tịch Hội đồng, cán bộ Địa chính, cán bộ Tư pháp, Công an, Hội Nông dân và đại diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã làm thành viên) xác định, Chủ tịch UBND cấp xã xác nhận thời điểm sử dụng đất ở và chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về việc xác nhận đó.
2. Diện tích đất ở được cấp GCNQSDĐ như sau:
a) Trường hợp sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 thì diện tích đất ở được công nhận bằng 01 lần hạn mức giao đất ở quy định tại Điều 3 của Quyết định số 3626/2005/QĐ-UBND ngày 20/10/2005 của UBND tỉnh và không phải nộp tiền sử dụng đất;
b) Trường hợp sử dụng đất từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 (ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành) thì diện tích đất ở được công nhận bằng 01 lần hạn mức giao đất ở nói tại điểm a trên đây và phải nộp 50% tiền sử dụng đất.
Diện tích còn lại sau khi đã xác định là đất ở, thì được xác định theo hiện trạng sử dụng đất.