Điều 10. Hợp đồng chuyển giao công nghệ
1. Việc chuyển giao công nghệ được thực hiện thông qua Hợp đồng bằng văn bản hoặc hình thức khác có giá trị tương đương văn bản, bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.
Ngôn ngữ trong hợp đồng chuyển giao công nghệ do các bên thoả thuận; trường hợp cần giao dịch tại Việt Nam thì phải có hợp đồng bằng tiếng Việt. Hợp đồng bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài có giá trị như nhau.
Hợp đồng chuyển giao công nghệ được giao kết và thực hiện theo quy định của Luật Chuyển giao công nghệ, Bộ Luật dân sự, Luật Thương mại và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Việc lập Hợp đồng chuyển giao công nghệ thực hiện theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 133/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 của Chính phủ.
3. Trường hợp sử dụng vốn nhà nước để chuyển giao công nghệ trong dự án đầu tư, bên nhận công nghệ phải lập Hợp đồng chuyển giao công nghệ, trong đó nêu rõ nội dung và giá chuyển giao công nghệ để trình cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư.
4. Trường hợp chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học - công nghệ được thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước thì phải được sự đồng ý của Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An và phải lập Hợp đồng chuyển giao công nghệ.
5. Trường hợp sử dụng nhiều nguồn vốn để nhận chuyển giao công nghệ, trong đó nguồn vốn nhà nước chiếm tỷ lệ từ 51% trở lên thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều này.
6. Đối với các dự án đầu tư không sử dụng vốn nhà nước để chuyển giao công nghệ thì khuyến khích lập Hợp đồng chuyển giao công nghệ.
7. Kết thúc thời hạn hợp đồng chuyển giao công nghệ bên nhận và bên giao phải lập biên bản đánh giá kết quả thực hiện Hợp đồng chuyển giao công nghệ và gửi kết quả về Sở Khoa học và Công nghệ.