Điều 6. Thủy lợi phí đối với các dịch vụ khác :
a- Sử dụng nước tự chảy tưới rau, màu, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả :
Mức thu bằng 50% mức thu đối với cây lúa có thời vụ tương ứng. Trong trường hợp tưới nước cho vườn ươm, cây đặc sản mức thu như tưới cho cây cà phê, nếu thu cao hơn thì có sự thoả thuận hộ dùng nước và được ghi vào hợp đồng.
b- Sử dụng nước nuôi trồng thủy sản :
- Nuôi trồng trong hồ chứa : Thu 10 kg thốc khô/ha/năm của diện tích mặt nước hồ chứa được tính ở cao trình mực nước trung bình giữa mực nước trung bình giữa mực nước dâng bình thường và mực nước chết của hồ.
- Nuôi trồng trong ruộng, ao, dâm và không kết hợp trồng trọt : Thu 20 kg thốc khô/1.000m³ nước nếu cấp bằng tự chảy và 30 kg thốc khô/1.000m³ nếu cấp bằng trạm bơm điện (dầu) thuộc công trình quản lý.
c- Sử dụng nước trong sinh hoạt cho sản xuất công nghiệp (chế biến mủ cao su và đường): Mức thu là 85 kg thốc khô/1.000m³ nước, hộ dùng nước tự đặt đồng hồ hoặc theo thoả thuận m³ nước sử dụng giữa hai bên. Nếu dùng nước tạo nguồn thì mức thu bằng 60% mức thu này.
d- Những nhà máy thủy điện sử dụng nước của công trình thủy lợi :
Mức thu bằng 5% sản lượng điện của Trạm thủy điện thực tế phát tại Nhà máy (sản lượng điện này tính bằng đơn vị kí lô oát giờ (Kwh) và quy đổi thành tiền theo giá bán điện của Nhà máy).
e- Công trình không đầu tư từ vốn ngân sách Nhà nước :
Nếu cần thu cao hơn mức quy định để thu hồi vốn thì phải lập phương án trình duyệt theo sự phân cấp của Ủy ban Nhân dân tỉnh.