Điều 15. Chế độ báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước
1. Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải thực hiện chế độ báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong phạm vi quản lý gửi Ủy ban nhân dân tỉnh (qua Công an tỉnh) để báo cáo Bộ Công an theo quy định như sau:
a) Báo cáo định kỳ: Báo cáo sơ kết một năm một lần; Tổng kết năm năm một lần.
b) Báo cáo đột xuất được thực hiện ngay sau khi phát hiện vụ lộ, mất bí mật nhà nước hoặc theo đề nghị của Công an tỉnh;
c) Thời hạn lấy số liệu trong chế độ báo cáo định kỳ:
Báo cáo định kỳ một năm: Thời điểm lấy số liệu từ ngày 05 tháng 12 của kỳ báo cáo trước đến ngày 05 tháng 12 của kỳ báo cáo; thời hạn gửi báo cáo về Ủy ban nhân dân tỉnh trước ngày 10 tháng 12 hàng năm.
Báo cáo định kỳ năm năm: Thực hiện theo yêu cầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
2. Nội dung báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước:
a) Phân tích, đánh giá tình hình liên quan đến công tác bảo vệ bí mật nhà nước;
b) Kết quả thực hiện công tác bảo vệ bí mật nhà nước; ưu điểm, hạn chế, khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong chỉ đạo, thực hiện;
c) Tình hình, số liệu các vụ lộ, mất bí mật nhà nước; nguyên nhân và việc xử lý, khắc phục hậu quả;
d) Dự báo tình hình; dự kiến công tác trọng tâm bảo vệ bí mật nhà nước và đề xuất, kiến nghị.