Điều 9. Xử lý sau giám sát
1. Cơ quan đăng ký đầu tư chủ động phối hợp các sở, ngành, địa phương tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nhà đầu tư triển khai thực hiện dự án theo thẩm quyền. Trường hợp vượt quá thẩm quyền, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh để chỉ đạo xử lý.
2. Trường hợp dự án chậm tiến độ nhưng do nguyên nhân khách quan trong thực hiện các thủ tục đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường và các nguyên nhân khách quan khác, cơ quan đăng ký đầu tư làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm của nhà đầu tư, trách nhiệm của các cơ quan liên quan (nếu có) và báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét cho chủ trương, làm cơ sở để cơ quan đăng ký đầu tư có ý kiến giãn tiến độ đầu tư theo quy định tại Điều 46 Luật Đầu tư.
3. Các trường hợp vi phạm thuộc diện xử lý chấm dứt hoạt động dự án:
a) Nhà đầu tư không thực hiện đúng các nội dung của quyết định chủ trương đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và đã bị xử lý vi phạm hành chính nhưng tiếp tục vi phạm và không có khả năng khắc phục điều kiện ngừng hoạt động theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 47 Luật Đầu tư.
b) Dự án đầu tư đã ngừng hoạt động và hết thời hạn 12 tháng kể từ ngày ngừng hoạt động, cơ quan đăng ký đầu tư không liên lạc được với nhà đầu tư hoặc đại diện hợp pháp của nhà đầu tư.
c) Sau 12 tháng mà nhà đầu tư không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện dự án theo tiến độ quy định tại quyết định chủ trương đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và không thuộc trường hợp được giãn tiến độ thực hiện dự án đầu tư theo quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Các trường hợp vi phạm khác theo quy định của pháp luật về đầu tư, đất đai, xây dựng và quy định pháp luật có liên quan được xử lý theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Trường hợp vi phạm nghiêm trọng phải xử lý chấm dứt hoạt động dự án, các sở, ngành và địa phương thông báo cho cơ quan đăng ký đầu tư để xử lý theo quy định.