Điều 34. Bồi thường thiệt hại về nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt hợp pháp của cá nhân, hộ gia đình, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi Nhà nước thu hồi đất
Việc bồi thường đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt ở gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc trường hợp được phép xây dựng (phù hợp giấy phép xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc được miễn giấy phép xây dựng theo quy định pháp luật về xây dựng) hoặc có giấy tờ hợp lệ thông qua các hình thức mua, bán, nhận thừa kế, nhận tặng cho hoặc các hình thức hợp pháp khác khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại khoản 1, Điều 89 của Luật Đất đai được thực hiện cụ thể như sau:
1. Trường hợp nhà ở, công trình xây dựng phải tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không bảo đảm theo tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì mức bồi thường bằng giá trị xây dựng mới toàn bộ diện tích nhà ở, công trình xây dựng có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương.
2. Trường hợp nhà ở, công trình xây dựng phải tháo dỡ một phần mà phần còn lại của nhà ở, công trình đó vẫn sử dụng được theo tiêu chuẩn, kỹ thuật theo quy định pháp luật thì mức bồi thường bằng tổng giá trị xây mới đối với phần nhà ở, công trình xây dựng phải tháo dỡ và khoản tiền tính bằng 20% giá trị xây mới phần phải tháo dỡ để chủ sở hữu sửa chữa, hoàn thiện phần nhà ở, công trình còn lại theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương của nhà, công trình xây dựng trước khi bị tháo dỡ.
Trường hợp nhà ở bị tháo dỡ một phần mà ranh giới tháo dỡ (ranh giới giải phóng mặt bằng) nằm ở giữa hai cột chịu lực của nhà ở thì diện tích được tính bồi thường là diện tích bị tháo dỡ theo ranh giới tháo dỡ và cộng thêm một khoảng diện tích tính từ ranh giới tháo dỡ đến cột chịu lực gần nhất với ranh giới tháo dỡ.
3. Giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình xây dựng bằng (=) diện tích nhà ở hoặc diện tích, khối lượng công trình được tính bồi thường nhân với (x) đơn giá xây dựng mới nhà ở, công trình xây dựng do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành.