Điều 8. Hình thức sử dụng đất thực hiện dự án đầu tư sử dụng đất vào mục đích thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp
1. Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư sử dụng đất vào mục đích thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp mà thuộc trường hợp Nhà nước phải thu hồi đất theo Điều 62 của Luật Đất đai thì được Nhà nước cho thuê đất.
2. Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư sử dụng đất vào mục đích thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp mà không thuộc trường hợp Nhà nước phải thu hồi đất theo Điều 62 của Luật Đất đai, thì thực hiện theo các hình thức sau:
a) Trường hợp nhận chuyển quyền sử dụng đất, thuê đất, thuê lại quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất mà đất của tổ chức kinh tế, hộ gia đình cá nhân là đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, đất thương mại dịch vụ thì chủ đầu tư phải lập thủ tục đăng ký chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án nhưng không phải chuyển sang hình thức thuê đất.
b) Trường hợp nhận chuyển quyền sử dụng đất, thuê đất, thuê lại quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất mà đất của tổ chức kinh tế, hộ gia đình cá nhân là đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là rừng trồng (sau đây gọi tắt là đất nông nghiệp), thì Chủ đầu tư phải lập thủ tục để được chuyển mục đích sử dụng và thuê đất; phần chênh lệch giữa đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp, đất thương mại dịch vụ thì Chủ đầu tư được chọn một trong hai hình thức: Trả tiền thuê đất một lần hoặc thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm.