Điều 9. Giao nộp thông tin, dữ liệu nông nghiệp và môi trường
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước để thu nhận, tạo lập hoặc tạo ra trong quá trình hoạt động mà theo quy định của pháp luật phải giao nộp các thông tin, dữ liệu, tài liệu nông nghiệp và môi trường và lưu trữ chuyên ngành.
2. Thông tin dữ liệu giao nộp phải là các bản chính, bản gốc theo quy định của pháp luật. Thông tin, dữ liệu nông nghiệp và môi trường khi giao nhận phải được lập thành biên bản (theo Mẫu số 05 tại Phụ lục ban hành kèm theo Quy chế này) và lưu vào hồ sơ theo Quy chế này. Biên bản giao nộp dữ liệu cho Sở Nông nghiệp và Môi trường là một trong những cơ sở để xác định hoàn thành công trình, dự án hoặc nhiệm vụ được giao.
3. Thời gian thực hiện giao nộp thông tin, dữ liệu nông nghiệp và môi trường
a) Cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều này thực hiện nhiệm vụ, dự án về nông nghiệp và môi trường trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày được cơ quan có thẩm quyền nghiệm thu, phê duyệt, công bố hoặc công nhận kết quả hoàn thành nhiệm vụ, dự án có trách nhiệm giao nộp một (01) bộ dạng điện tử và một (01) bộ gốc in trên giấy để lưu trữ theo đúng chuẩn thông tin, dữ liệu chuyên môn được Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định. Trường hợp có quy định khác thực hiện theo quy định của cơ quan Trung ương chuyên ngành.
b) Các phòng, đơn vị thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao có tạo ra các kết quả là thông tin, dữ liệu nông nghiệp và môi trường, trong thời hạn 01 năm kể từ ngày công việc kết thúc;
trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày công trình được quyết toán đối với hồ sơ, tài liệu xây dựng cơ bản, có trách nhiệm giao nộp cho Sở Nông nghiệp và Môi trường (qua Văn phòng Sở) một (01) bộ dữ liệu dạng giấy (bản chính, bản gốc) và một (01) bộ dữ liệu theo quy định đã được số hóa thông qua môi trường điện tử hoặc dạng số lưu trên đĩa CD hoặc DVD.