vanban.org

Điều 7. Quy trình tự kiểm tra và xử lý văn bản QPPL — Quyết định 56/2013/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 30/06/2016 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 30/06/2016 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 25/2016/QĐ-UBND · 20/06/2016
Kon Tum Ban hành 31/12/2013 Hiệu lực 10/01/2014 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 12 năm
Quyết định số 56/2013/QĐ-UBND Ban hành Quy chế kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Kon Tum · 56/2013/QĐ-UBND
30/06/201625/2016/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 10/01/2014Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 56/2013/QĐ-UBND › Chương II › Mục I › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Quy trình tự kiểm tra và xử lý văn bản QPPL

Trừ trường hợp văn bản QPPL được ban hành trong trường hợp khẩn cấp, đột xuất, việc tự kiểm tra được thực hiện như sau:

1. Đối với Quyết định, Chỉ thị của UBND tỉnh:

a) Sau khi văn bản được ký ban hành, Văn phòng UBND tỉnh có trách nhiệm gửi ngay cho Giám đốc Sở Tư pháp và thủ trưởng cơ quan chuyên môn đã chủ trì soạn thảo văn bản đó để tiến hành giúp UBND tỉnh tự kiểm tra.

b) Quy trình thực hiện việc tự kiểm tra và xử lý văn bản QPPL:

Việc tự kiểm tra và xử lý văn bản QPPL trong trường hợp này thực hiện như sau:

Sở Tư pháp, cơ quan chuyên môn đã chủ trì soạn thảo văn bản đó phải mở "Sổ văn bản đến" theo dõi việc tiếp nhận văn bản được gửi đến để tự kiểm tra.

Giám đốc Sở Tư pháp, thủ trưởng cơ quan chuyên môn đã chủ trì soạn thảo văn bản phân công chuyên viên chuyên trách, người làm công tác pháp chế thực hiện kiểm tra văn bản. Người được phân công kiểm tra có trách nhiệm đối chiếu nội dung văn bản kiểm tra với văn bản làm cơ sở pháp lý để xác định nội dung trái pháp luật quy định tại Điều 6 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP của Chính phủ và Điều 4 Thông tư 20/2010/TT-BTP của Bộ Tư pháp để xem xét, đánh giá và kết luận về tính hợp pháp của văn bản kiểm tra.

Người được phân công kiểm tra văn bản phải ký tên và ghi rõ ngày, tháng, năm kiểm tra vào góc trên của văn bản đã kiểm tra (để xác nhận việc kiểm tra, thời điểm kiểm tra) và lập báo cáo kèm theo danh mục những văn bản đã được phân công kiểm tra.

Khi phát hiện nội dung của văn bản kiểm tra có dấu hiệu trái pháp luật, người kiểm tra văn bản phải báo cáo kết quả tự kiểm tra và đề xuất xử lý thông qua "Phiếu kiểm tra văn bản" theo Mẫu số 1 ban hành kèm theo Thông tư 20/2010/TT-BTP của Bộ Tư pháp.

Sau khi lập phiếu kiểm tra, người kiểm tra văn bản phải lập "Hồ sơ về văn bản có nội dung trái pháp luật" và trình Giám đốc Sở Tư pháp hoặc thủ trưởng cơ quan. Hồ sơ bao gồm: Văn bản được kiểm tra, văn bản làm cơ sở pháp lý để xác định nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra, phiếu kiểm tra văn bản và các tài liệu có liên quan khác (nếu có).

Giám đốc Sở Tư pháp, thủ trưởng cơ quan chuyên môn đã chủ trì soạn thảo văn bản, thủ trưởng các cơ quan khác có liên quan trao đổi, thống nhất những nội dung trái pháp luật hoặc không phù hợp và đề xuất các biện pháp xử lý.

Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm lập báo cáo gửi UBND tỉnh về nội dung có dấu hiệu trái pháp luật. Ngoài các nội dung theo quy định, báo cáo còn có các nội dung sau: Tên văn bản; tên và nội dung văn bản làm cơ sở pháp lý để xác định nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra; ý kiến của Giám đốc Sở Tư pháp, thủ trưởng cơ quan chuyên môn đã chủ trì soạn thảo văn bản đó và của thủ trưởng các cơ quan có liên quan về nội dung trái pháp luật của văn bản và đề xuất hướng xử lý.

Kết quả tự xử lý văn bản được công bố theo quy định của Nghị định số 40/2010/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 20/2010/TT-BTP của Bộ Tư pháp.

2. Đối với Nghị quyết của HĐND, Quyết định, Chỉ thị của UBND cấp huyện:

Sau khi văn bản được ký ban hành, Văn phòng HĐND - UBND cấp huyện có trách nhiệm gửi ngay văn bản cho Trưởng Ban Pháp chế (Nghị quyết của HĐND) và Trưởng Phòng Tư pháp (Quyết định, Chỉ thị của UBND) để tiến hành tự kiểm tra theo quy định.

Quy trình tự kiểm tra được thực hiện tương tự quy định điểm b khoản 1 Điều này.

3. Đối với Nghị quyết của HĐND, Quyết định, Chỉ thị của UBND cấp xã:

Ngay sau khi ký ban hành, công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã phải gửi ngay văn bản cho Thường trực HĐND cấp xã, công chức Tư pháp- Hộ tịch để giúp HĐND, UBND cùng cấp tự kiểm tra theo quy định.

Quy trình tự kiểm tra và xử lý văn bản QPPL được thực hiện tương tự quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.

Trường hợp phát hiện Nghị quyết có dấu hiệu trái pháp luật nhưng HĐND không thể tiến hành phiên họp bất thường, nếu không xử lý sẽ phát sinh hậu quả thì Thường trực HĐND cấp xã có trách nhiệm chuyển hồ sơ về Trưởng Phòng Tư pháp tiến hành kiểm tra theo thẩm quyền và trình Chủ tịch UBND cấp huyện đình chỉ thi hành. Việc tự xử lý trong trường hợp này được thực hiện tại kỳ họp HĐND gần nhất.