Điều 11. Quy trình kiểm tra văn bản theo chuyên đề, địa bàn hoặc theo ngành, lĩnh vực
1. Việc thành lập đoàn kiểm tra được thực hiện trong trường hợp kiểm tra theo chuyên đề, theo địa bàn hoặc theo ngành, lĩnh vực.
2. Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng Tư pháp (sau đây gọi tắt là cơ quan chủ trì kiểm tra) theo chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm đề xuất Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch UBND cấp huyện thành lập đoàn kiểm tra. Hồ sơ đề nghị gồm:
a) Tờ trình về việc thành lập đoàn kiểm tra.
b) Dự thảo Quyết định thành lập đoàn kiểm tra.
c) Kế hoạch kiểm tra.
Trường hợp thành lập đoàn kiểm tra theo chuyên đề, thành phần đoàn phải có cơ quan Tư pháp, cơ quan chuyên môn thuộc UBND quản lý theo ngành, lĩnh vực và có thể mời thêm các cá nhân thuộc cơ quan, tổ chức có liên quan.
3. Thủ tục kiểm tra, trách nhiệm của đoàn kiểm tra và cơ quan có liên quan được thực hiện theo quy định tại Điều 15 của Nghị định số 40/2010/NĐ-CP của Chính phủ và Điều 10 Thông tư số 20/2010/TT-BTP của Bộ Tư pháp.
Trong thời hạn 20 (hai mươi) ngày làm việc kể từ ngày kết thúc kiểm tra, đoàn kiểm tra phải có báo cáo kết quả kiểm tra cho Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch UBND cấp huyện và cơ quan được kiểm tra. Trường hợp phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật thì cơ quan ban hành văn bản có trách nhiệm tự kiểm tra và xử lý theo quy định tại Điều 7 Quy chế này.
Cơ quan chủ trì kiểm tra có trách nhiệm theo dõi kết quả tự kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật của cơ quan được kiểm tra theo báo cáo của đoàn kiểm tra. Trường hợp không nhất trí với kết quả tự kiểm tra, xử lý hoặc cơ quan ban hành văn bản trái pháp luật không xử lý đúng thời hạn thì cơ quan chủ trì kiểm tra có trách nhiệm báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh hoặc Chủ tịch UBND cấp huyện để tiếp tục xử lý.