Điều 4. Quy định cụ thể: khoản 1 Điều 14 nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/ 2009; điểm d khoản 1 Điều 44; điểm d khoản 1 Điều 45 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ.
1. Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng có đủ các điều kiện như quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định 69/2009/NĐ-CP thì được bồi thường.
2. Các trường hợp sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 nhưng không được cấp Giấy chứng nhận như quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính Phủ, sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức theo quy định tại Điều 70 Luật Đất đai và khoản 1 Điều 69 Nghị định 181/2004/NĐ-CP thì không được bồi thường, nếu đất đang sử dụng là đất có nhà ở mà người có đất bị thu hồi không có chỗ ở nào khác trong phạm vi xã (phường, thị trấn) thì được hỗ trợ. Mức hỗ trợ về đất bằng 50% giá đất ở, diện tích hỗ trợ không quá hạn mức giao đất ở theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh.
3. Các trường hợp sử dụng đất từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004, không được cấp Giấy chứng nhận như quy định khoản 4 Điều 14 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính Phủ, sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức theo quy định tại Điều 70 Luật Đất đai và khoản 1 Điều 69 Nghị định 181/2004/NĐ-CP thì không được bồi thường về đất, nếu đất đang sử dụng là đất có nhà ở mà người có đất bị thu hồi không có chỗ ở nào khác trên phạm vi xã (phường, thị trấn) nơi có đất bị thu hồi thì được bố trí tái định cư như khoản 2 điều 17 Quy định này.
4. Người đang sử dụng đất do lấn, chiếm hoặc sử dụng đất được giao, thuê không đúng thẩm quyền kể từ ngày 01/7/2004 về sau thì không được bồi thường về đất khi bị thu hồi. Nếu phải di chuyển chỗ ở mà không có chỗ ở nào khác trên địa bàn huyện, thị xã, thành phố thì được xem xét bố trí tái định cư như khoản 2 điều 17 Quy định này.