Điều 23. Chế độ báo cáo, sơ kết, tổng kết về công tác bảo vệ bí mật nhà nước
1. Chế độ báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước
a) Chế độ báo cáo
Báo cáo đột xuất: Là báo cáo về những vụ lộ, mất bí mật nhà nước xảy ra hoặc các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước. Báo cáo phải nêu đầy đủ, cụ thể tình tiết của sự việc xảy ra và các biện pháp khắc phục hậu quả, truy xét ban đầu.
Báo cáo định kỳ: Là báo cáo toàn diện hàng năm về công tác bảo vệ bí mật nhà nước tại cơ quan, đơn vị, địa phương từ ngày 01 tháng 11 năm trước đến ngày 01 tháng 11 năm kế tiếp. Báo cáo gửi về Thường trực Ban Chỉ đạo công tác bảo vệ bí mật nhà nước tỉnh (Công an tỉnh) trước ngày 15 tháng 11 hàng năm.
b) Nội dung báo cáo
Nội dung báo cáo thực hiện theo các quy định, hướng dẫn của Ủy ban nhân dân tỉnh và Ban Chỉ đạo công tác bảo vệ bí mật nhà nước tỉnh.
c) Gửi báo cáo
Thủ trưởng cơ quan, đơn vị và UBND cấp huyện phải thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong phạm vi mình quản lý theo quy định, cụ thể như sau:
- Báo cáo của cơ quan, đơn vị, địa phương thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dân cấp huyện gửi về Ủy ban nhân dân cấp huyện và Công an cấp huyện.
- Báo cáo của các sở, ban, ngành cấp tỉnh và tương đương; các ban đảng Tỉnh ủy; các cấp ủy đảng, tổ chức đảng trực thuộc Tỉnh ủy; Ủy ban nhân dân cấp huyện gửi về Ủy ban nhân dân tỉnh và Công an tỉnh.
- Báo cáo của các cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh gửi về Ủy ban nhân dân tỉnh (qua Công an tỉnh), đồng thời gửi cấp trên trực tiếp.
- Báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh gửi Thủ tướng Chính phủ, đồng gửi Bộ Công an.
2. Sơ kết, tổng kết về công tác bảo vệ bí mật nhà nước
Thường trực Ban Chỉ đạo công tác bảo vệ bí mật nhà nước tỉnh chịu trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân tỉnh hàng năm tổ chức sơ kết và 05 năm một lần tổ chức tổng kết về công tác bảo vệ bí mật nhà nước trên địa bàn tỉnh. Việc gửi báo cáo sơ kết, báo cáo tổng kết về công tác bảo vệ bí mật nhà nước trên địa bàn tỉnh thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này.