Điều 6. Tổ chức xét công nhận nghề truyền thống , làng nghề, làng nghề truyền thống
1. Hồ sơ, trình tự đề nghị công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống: Áp dụng theo quy định tại khoản 1, 2, 3, 4 Điều 6 Nghị định số 52/2018/NĐ-CP của Chính phủ.
2. Thành lập Hội đồng xét công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống (sau đây gọi tắt là Hội đồng). UBND tỉnh thành lập Hội đồng bao gồm:
a) Lãnh đạo UBND tỉnh - Chủ tịch Hội đồng.
b) Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT - Phó Chủ tịch Hội đồng.
c) Lãnh đạo các Sở : Nông nghiệp và P TNT, Công Thương, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Tài nguyên và Môi trường, Khoa học và Công nghệ, Lao động-Thương binh và Xã hội- Ủy viên.
d) Đại diện Hôị Nông dân tỉnh và một số tổ chức, cá nhân khác có liên quan - Ủy viên.
e) Lãnh đạo Chi cục Phát triển nông thôn - Sở Nông nghiệp và PTNT - Ủy viên kiêm Thư ký Hội đồng. Hội đồng xét công nhận có trách nhiệm tổ chức thẩm định, chọn những nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống có đủ tiêu chí hoặc nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống đã được cấp có thẩm quyền công nhận mà không còn đạt tiêu chí theo quy định tại Nghị định số 52/2018/NĐ-CP của Chính phủ trình UBND tỉnh xem xét, quyết định cấp bằng công nhận và thu hồi bằng đã công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống.
3. Thời gian xét công nhận: Hàng năm, Hội đồng tổ chức xét công nhận một lần. Theo đó, UBND cấp huyện rà soát hoàn chỉnh và gửi hồ sơ cho Sở Nông nghiệp và PTNT trước ngày 30 tháng 8. Trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Hội đồng tiến hành kiểm tra, tổ chức thẩm định, chọn các ngành nghề đề nghị công nhận và hoàn chỉnh hồ sơ; tham mưu UBND tỉnh xét công nhận trong tháng 10 hàng năm.
4. Chế độ thông tin, báo cáo: Áp dụng theo quy định tại khoản 7 Điều 6 Nghị định số 52/2018/NĐ-CP của Chính phủ.