Điều 14. Quản lý, sử dụng nghĩa trang
1. Các đơn vị, cá nhân quản lý nghĩa trang quản lý việc xây mới, chỉnh trang mộ phần đảm bảo theo các tiêu chuẩn sau:
a) Diện tích mộ: Theo Điều 4 quy định này.
b) Kích thước mộ: Chiều dài, chiều rộng (chưa kể phần địa tĩnh xung quanh): đối với mộ hung táng/chôn một lần không quá (2,4mx1,4m), đối với mộ cát táng/chôn sau hỏa táng không quá (1,5x1,0m); Chiều cao (tính từ mặt đất nền): phần mộ không quá 0,8m; phần bia mộ không quá 1,6m. Kích thước ô để lọ tro cốt sau hỏa táng tối đa (0,5mx0,5mx0,5m).
c) Hình thức kiến trúc: Phải phù hợp với truyền thống văn hóa, điều kiện của địa phương và phải xây dựng theo mẫu thiết kế được duyệt của đơn vị quản lý nghĩa trang (sau khi lấy ý kiến cộng đồng dân cư).
2. Đối với quỹ đất phục vụ đối tượng chính sách xã hội trên địa bàn tại các nghĩa trang xã hội hóa (quy định tại khoản 3 Điều 7 Quy định này):
a) Chủ đầu tư nghĩa trang bàn giao cho Ủy ban nhân dân cấp quản lý để thống nhất quản lý, khai thác.
b) Đối tượng chính sách xã hội khi chết được bố trí vào phần quỹ đất này là những đối tượng được hỗ trợ chi phí mai táng theo quy định pháp luật hiện hành về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.
3. Đăng ký trước và chuyển nhượng phần mộ cá nhân:
a) Cho phép đăng ký trước khi sử dụng phần mộ cá nhân tại các nghĩa trang được đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhưng không được chuyển nhượng với các đối tượng: Người từ 70 tuổi trở lên; người mắc bệnh hiểm nghèo theo quy định do Bộ Y tế ban hành; người có vợ hoặc chồng đã được an táng trong nghĩa trang.
b) Đơn vị quản lý nghĩa trang theo quy định tại Điều 13 quy định này tiếp nhận việc đăng ký trước phần mộ cá nhân. Hồ sơ đăng ký thực hiện theo quy định tại Điểm b Khoản 5 Điều 14 Nghị định số 23/2016/NĐ-CP.
c) Việc đăng ký trước và chuyển nhượng phần mộ cá nhân tại các nghĩa trang được đầu tư từ nguồn vốn ngoài ngân sách thực hiện theo quy định tại Điểm d Khoản 4 Điều 14 Nghị định số 23/2016/NĐ-CP.