Điều 16. Phương pháp đo đếm gỗ và lâm sản trong kiểm tra, kiểm soát:
Công chức Kiểm lâm khi kiểm tra, kiểm soát lâm sản, nếu phát hiện có vi phạm thì tiến hành đo đếm gỗ, lâm sản và phải thông báo cho người điều khiển phương tiện vận chuyển hoặc chủ gỗ và lâm sản biết phương pháp đo đếm.
a) Đối với gỗ tròn: đo đường kính (hoặc vanh) trung bình ở hai đầu hoặc ở đoạn giữa thân cây cả giác, lõi (đơn vị cm), đo chiều dài thân cây đoạn thực tế sử dụng (đơn vị mét và lấy hai số lẻ) để tính khối lượng từng cây (quy về m3).
b) Đối với gỗ xẻ, gỗ đẽo: đo đếm cụ thể từng hộp, phách, tấm, gỗ đẽo theo ba chiều dày (cm), rộng (cm), dài (m) và lấy hai số lẻ để tính khối lượng gỗ (quy về m3).
c) Đối với gỗ xẻ các loại cỡ nhỏ, ngắn thì kiểm tra số lượng thanh gỗ theo số lượng trong chứng từ hoá đơn vận chuyển.
d) Đối với gỗ bổ đôi, bổ tư: trên cơ sở gỗ đã được bổ để xác định đường kính bình quân cây gỗ, từ đó tính tổng khối lượng cây gỗ đã được bổ, nếu gỗ bổ đôi thì lấy tổng khối lượng cây gỗ chia hai, bổ tư thì chia tư, sau đó tính khối lượng từng loại gỗ (quy về m3 gỗ tròn).
e) Đối với gỗ đước, tràm được tính theo cây, cột, róng, lóng.
g) Đối với củi được đo đếm bằng ster đơn, ster đôi, tấn, tạ.
h) Đối với các loại lâm sản khác thì tuỳ theo từng loại cụ thể mà đo đếm khối lượng, số lượng hoặc trọng lượng theo chứng từ hoá đơn vận chuyển.
Sai số cho phép trong đo đếm gỗ về khối lượng gỗ: Đối với gỗ tròn các loại là + 10%, gỗ xẻ là + 5%.
Trường hợp nếu gỗ có những khuyết tật như rỗng ruột, mục trong, mục ngoài... thì được trừ khuyết tật đó trong quá trình đo đếm.