vanban.org

Điều 13. Việc kiểm tra, kiểm soát gỗ và lâm sản trong vận chuyển được quy định như sau: — Quyết định 47/1999/QĐ-BNN/KL

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Ban hành 12/03/1999 Hiệu lực 27/03/1999 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 4 phiên bản · 27 năm
Quyết định số 59/2005/QĐ-BNN Về việc ban hành Quy định về kiểm tra, kiểm soát lâm sản · 59/2005/QĐ-BNN
Quyết định số 47/1999/QĐ-BNN/KL Ban hành Quy định kiểm tra việc vận chuyển, sản xuất, kinh doanh gỗ và lâm sản · 47/1999/QĐ-BNN/KL
04/08/200370/2003/QĐ-BNNChưa hợp nhất 27/03/1999Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 47/1999/QĐ-BNN/KL › Chương 3 › Điều 13
Đọc toàn văn

Điều 13. Việc kiểm tra, kiểm soát gỗ và lâm sản trong vận chuyển được quy định như sau:

1. Trách nhiệm của chủ hàng, người điều khiển phương tiện vận chuyển gỗ, lâm sản:

a) Khi đến Hạt phúc kiểm lâm sản, Trạm phúc kiểm lâm sản phải dừng phương tiện vận chuyển để trình các chứng từ có liên quan đến nguồn gốc gỗ, lâm sản.

b) Thực hiện các yêu cầu kiểm tra, kiểm soát của công chức Kiểm lâm khi đang thi hành công vụ. Phản ánh kịp thời với cơ quan có thẩm quyền nếu công chức Kiểm lâm có hành vi không đúng theo quy định pháp luật.

c) Chấp hành nghiêm túc quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền.

2. Trách nhiệm, quyền hạn và nội dung kiểm tra, kiểm soát của Hạt phúc kiểm lâm sản, Trạm phúc kiểm lâm sản:

a) Trách nhiệm và quyền hạn.

Tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong việc quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.

Đặt bảng báo hiệu kiểm soát lâm sản trên đoạn đường trước khi qua Hạt, Trạm ở 2 phía khoảng 100m để chủ hàng hoặc chủ phương tiện biết dừng lại để trình kiểm.

Có bảng thông báo quy định về hoá đơn, chứng từ liên quan đến vận chuyển, sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản.

Có kho bãi tạm giữ, bảo quản lâm sản và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tạm giữ hàng.

Phải tổ chức lực lưọng hoạt động 24/24 giờ trong ngày, phân công lãnh đạo để giải quyết kịp thời công việc, tổ trực kiểm tra lâm sản phải có từ 02 người trở lên; phải mặc đồng phục Kiểm lâm, mang cấp hiệu, phù hiệu, biển hiệu.

Phải ghi chép đầy đủ ngày, giờ, số lượng, khối lượng lâm sản được vận chuyển qua trạm, kiểm tra phải khẩn trương nhanh chóng, chính xác không được gây phiền hà cho khách hàng. Thực hiện nghiêm túc việc bàn giao giữa các ca.

Phải mở sổ ghi chép tin báo của công dân về hành vi vi phạm quy định quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.

Khi kiểm tra, nếu phát hiện có vi phạm phải lập biên bản xử lý theo đúng quy định pháp luật.

b) Nội dung kiểm tra:

Kiểm tra chứng từ liên quan gỗ, lâm sản.

Kiểm tra gỗ, lâm sản trên phương tiện vận chuyển, đối chiếu với chứng từ gỗ, lâm sản đã được xuất trình.

Sau khi kiểm tra, nếu không có vi phạm, thì đơn vị Kiểm lâm đầu tiên kiểm tra đóng dấu đã kiểm tra (có chữ ký, họ và tên cán bộ kiểm tra) vào mặt sau giấy phép vận chuyển hoặc chứng từ vận chuyển. Các đơn vị Kiểm lâm tuyến sau chỉ ghi chép vào sổ nhật ký của đơn vị.

Trường hợp vận chuyển vượt khối lượng, sai quy cách, sai tuyến, sai chủng loại hoặc vi phạm mới phát sinh sau khi đơn vị tuyến trước đã kiểm tra thì đơn vị, công chức Kiểm lâm kiểm tra tuyến sau lập biên bản, xử lý đúng tính chất, mức độ vi phạm, sau đó thông báo bằng văn bản cho cơ quan Kiểm lâm tỉnh quản lý đơn vị nhân viên Kiểm lâm tuyến trước biết và báo cáo lên Cục Kiểm lâm.

Mọi trường hợp vi phạm đều phải làm rõ chủ lâm sản, người điều khiển phương tiện vận chuyển. Nếu không xác định được chủ lâm sản mà người điều khiển không có chứng cứ để chứng minh hành vi của mình chỉ là vô ý chở thuê thì người điều khiển phương tiện coi như là chủ lâm sản.

3. Công chức Kiểm lâm trong khi thi hành công vụ có quyền kiểm tra ở sân ga đối với gỗ và lâm sản được vận chuyển bằng đường sắt hoặc đường hàng không, chủ hàng phải xuất trình các chứng từ liên quan đến gỗ, lâm sản.