vanban.org

Điều 5. Giá đất để tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại — Quyết định 45/2008/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/01/2009 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
An Giang Ban hành 15/12/2008 Hiệu lực 01/01/2009 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 45/2008/QĐ-UBND › Chương II › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Giá đất để tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại

1. Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng đã được Ủy ban nhân dân tỉnh quy định và công bố; không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng; trường hợp tại thời điểm có quyết định thu hồi đất mà giá này chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì Sở Tài chính (hoặc cơ quan chuyên môn có thẩm quyền xác định giá đất) xem xét, đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định giá đất cụ thể cho phù hợp.

2. Trường hợp thực hiện bồi thường chậm được quy định như sau:

a) Bồi thường chậm do cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường gây ra mà giá đất tại thời điểm bồi thường do Ủy ban nhân dân tỉnh công bố cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm trả tiền bồi thường; nếu giá đất tại thời điểm bồi thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi;

b) Bồi thường chậm do người bị thu hồi đất gây ra, nếu giá đất tại thời điểm bồi thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm bồi thường; nếu giá đất tại thời điểm bồi thường cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi.

3. Chi phí đầu tư vào đất còn lại là các chi phí thực tế người sử dụng đất đã đầu tư vào đất để sử dụng theo mục đích được phép sử dụng bao gồm: tiền thuê đất trả trước còn lại, chi phí san lấp mặt bằng và một số chi phí khác liên quan trực tiếp có căn cứ chứng minh đã đầu tư vào đất, mà đến thời điểm Nhà nước thu hồi đất còn chưa thu hồi được.

Ngoài ra, trong quá trình sử dụng người sử dụng đất có công đầu tư, cải tạo đất thì được hỗ trợ chi phí đầu tư cải tạo vào đất đó. Chi phí đầu tư, cải tạo đất được tính như sau:

   a) Hỗ trợ chi phí đào đất:

   - Chi phí đào đất chỉ áp dụng với loại đất được bồi thường là đất ao. Khối lượng đất đào được tính bằng đơn vị m3. Cách tính là lấy cao trình của đất trồng cây hàng năm tại khu vực giải tỏa làm mốc để xác định độ sâu thực tế của ao;

   - Không áp dụng quy định mục trên đối với ao tự nhiên, mặt đất trũng đã có sẵn không phải do quá trình lao động sản xuất của con người tạo nên.

   b) Hỗ trợ chi phí san lấp mặt bằng:

   - Chi phí san lấp đất, cát được áp dụng đối với mặt đất có chiều cao hơn cao trình của đất cùng loại tại khu vực giải tỏa. Khối lượng đất, cát san lấp được tính bằng đơn vị m3. Cách tính là lấy cao trình của đất cùng loại tại khu vực làm mốc để xác định phần cao vượt trội của phần thửa đất đã san lấp so với mốc;

   - Không áp dụng quy định mục trên đối với đất giải tỏa tại khu vực có địa hình là đồi núi hoặc đất bờ ao.

c) Các khoản chi phí bồi thường, san lấp mặt bằng, chi phí tôn tạo đất theo hiện trạng của đất khi được giao, được thuê và phù hợp với mục đích sử dụng đất. Trường hợp thu hồi đất phi nông nghiệp, hoặc đất ở, đất vườn, ao liền kề đất ở và đất nông nghiệp xen kẻ trong khu dân cư mà đã được bồi thường, hỗ trợ theo giá đất phi nông nghiệp hoặc đất ở thì không được bồi thường chi phí san lấp mặt bằng, chi phí tôn tạo đất;

d) Sở Tài chính căn cứ vào tình hình thực tế tại thời điểm giải toả mà thông báo giá hỗ trợ chi phí đào đất và chi phí đắp đất cho phù hợp với đặc điểm của vùng dự án.