Điều 8. Việc trao đổi, cung cấp, công khai thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1. Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan đầu mối cung cấp, công khai thông tin về tình trạng hoạt động của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Định kỳ hàng quý đối chiếu thông tin trên Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia với thông tin do Cơ quan thuế cung cấp về tình trạng hoạt động của doanh nghiệp, doanh nghiệp ngừng hoạt động quá một năm, doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký mà không thông báo với Cơ quan thuế hoặc Cơ quan đăng ký kinh doanh, làm cơ sở tiến hành kiểm tra và xử lý theo thẩm quyền.
2. Cục Thuế tỉnh phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, rà soát về tình trạng hoạt động của doanh nghiệp đang hoạt động; doanh nghiệp đã bị đóng mã số thuế do không hoạt động tại địa điểm đã đăng ký kinh doanh, các doanh nghiệp đã được xử lý khôi phục mã số thuế do đã đề nghị hoạt động kinh doanh trở lại để Sở Kế hoạch và Đầu tư theo dõi và xử lý theo qui định.
Định kỳ ngày 15 hàng tháng, Cục Thuế tỉnh lập và gửi danh sách doanh nghiệp có tình trạng pháp lý đang hoạt động trên địa bàn tỉnh đến Sở Kế hoạch và Đầu tư (số liệu lũy kế đến thời điểm báo cáo và số phát sinh mới trong tháng trước liền kề), để phối hợp theo dõi, quản lý doanh nghiệp hiệu quả, chặt chẽ và thống nhất.
3. Sở Công Thương theo dõi, cập nhật, cung cấp thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo ngành, lĩnh vực quản lý (trừ ngành, nghề kinh doanh xăng đầu), để các cơ quan, đơn vị hữu quan kịp thời nắm bắt và phối hợp hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, tạo điều kiện phục hồi và phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp.
4. Cục Thống kê phối hợp điều tra, khảo sát doanh nghiệp theo quy định hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, để theo dõi, cập nhật, cung cấp thông tin doanh nghiệp; đồng thời đối chiếu số liệu doanh nghiệp với Sở Kế hoạch và Đầu tư và Cục Thuế tỉnh từ 01 đến 02 lần/năm hoặc đột xuất theo chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền, nhằm thống nhất số liệu doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
5. Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh phối hợp cung cấp, công khai thông tin kịp thời về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đang hoạt động trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
6. Các sở, ban, ngành khác theo dõi, cập nhật, công khai thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thuộc ngành, lĩnh vực quản lý theo quy định của pháp luật; kịp thời phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế tỉnh và Cục Thống kê, để nắm bắt thông tin doanh nghiệp, hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn và đề xuất xử lý các trường hợp vi phạm quy định pháp luật; chủ động rà soát, xây dựng cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp hoạt động trong ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý.
7. Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn theo địa bàn quản lý, thường xuyên theo dõi, cập nhật và công khai thông tin đầy đủ, kịp thời về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định, khi phát hiện doanh nghiệp không còn hoạt động tại trụ sở đã đăng ký, doanh nghiệp vi phạm pháp luật thì lập danh sách gửi đến Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế tỉnh để phục vụ công tác quản lý nhà nước, giảm thiểu nghĩa vụ kê khai, báo cáo của doanh nghiệp hoặc xử lý theo quy định.