Điều 8. Trách nhiệm của cơ quan, doanh nghiệp, doanh nhân đề nghị xét, cho phép sử dụng và quản lý thẻ ABTC
1. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, hợp pháp của các thông tin kê khai trong thành phần hồ sơ xin cấp thẻ ABTC và các thông tin trong báo cáo. Cam kết chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật Việt Nam cũng như các quy định của các nước và vùng lãnh thổ thành viên APEC áp dụng đối với người mang thẻ ABTC.
2. Báo cáo định kỳ hàng năm tình hình quản lý và sử dụng thẻ ABTC của đơn vị gửi về Sở Ngoại vụ, thời gian gửi báo cáo chậm nhất là ngày 15 tháng 11 hàng năm; hoặc báo cáo đột xuất khi có yêu cầu phát sinh liên quan đến việc quản lý và sử dụng thẻ ABTC.
3. Trong vòng 07 ngày làm việc kể từ khi người đề nghị được cấp thẻ, cơ quan, doanh nghiệp có trách nhiệm thông báo cho Sở Ngoại vụ, kèm theo bản phô tô thẻ ABTC đã cấp.
4. Cơ quan, doanh nghiệp có trách nhiệm thu hồi thẻ và nộp lại thẻ cho cục Cục Quản lý Xuất nhập cảnh - Bộ Công an và thông báo Sở Ngoại vụ trong vòng 07 ngày làm việc kể từ khi người sử dụng thẻ nghỉ việc,thôi giữ chức vụ hoặc chuyển công tác. Trường hợp cơ quan, doanh nghiệp không báo cáo theo quy định, Sở Ngoại vụ đề nghị Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh có văn bản đề nghị với Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an hủy thẻ ABTC đã cấp cho doanh nhân của cơ quan, doanh nghiệp và sẽ không xem xét cấp lại thẻ ABTC trong vòng 24 tháng kể từ ngày thẻ được thông báo không còn giá trị sử dụng.
5. Trường hợp bị mất thẻ ABTC, phải thông báo cho Sở Ngoại vụ; đồng thời thông báo Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an để hủy giá trị sử dụng của thẻ bị mất theo quy định.
6. Doanh nhân được cấp thẻ ABTC có trách nhiệm sử dụng thẻ đúng mục đích nhập cảnh, giữ gìn và bảo quản thẻ; không được tự ý sửa đổi nội dung ghi trong thẻ; không được dùng thẻ vào việc vi phạm pháp luật; tôn trọng và tuân thủ các quy định của pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú và các quy định khác liên quan đến hoạt động của doanh nhân tại các nước hoặc vùng lãnh thổ thành viên.