vanban.org

Điều 6. Bồi thường, hỗ trợ di chuyển mồ mả (khoản 2 Điều 15 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP) — Quyết định 42/2024/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 10/10/2024 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Lai Châu Ban hành 27/09/2024 Hiệu lực 10/10/2024 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 3 năm
Quyết định số 42/2024/QĐ-UBND Ban hành Quy định một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lai Châu · 42/2024/QĐ-UBND
10/10/2024Bản gốcThay thế Hiện hành
Quyết định số 05/2023/QĐ-UBND Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về trình tự thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lai Châu ban hành kèm theo Quyết định số 16/2020/QĐ-UBND ngày 04/5/2020 của UBND tỉnh Lai Châu · 05/2023/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 42/2024/QĐ-UBND › Chương II › Mục 1 › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Bồi thường, hỗ trợ di chuyển mồ mả (khoản 2 Điều 15 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP)

Đối với mồ mả trong phạm vi đất thu hồi phải di dời quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP được bồi thường như sau:

1. Bồi thường di chuyển mồ mả bao gồm các chi phí như: Đào, bốc, di chuyển, xây dựng lại và các chi phí hợp lý khác có liên quan; mức bồi thường theo đơn giá do Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành; trường hợp di chuyển mồ mả đến nơi quy định mà phải nộp tiền sử dụng đất thì được tính bổ sung tiền sử dụng đất vào mức bồi thường.

2. Đối với mồ mả xây có kết cấu xây dựng phức tạp và không có đơn giá thì Tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường phối hợp với chủ đầu tư (cơ quan đại diện chủ đầu tư hoặc điều hành dự án) công trình, dự án xác định đơn giá bồi thường theo thực tế tại thời điểm bồi thường để lập, trình cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường theo quy định.

3. Đối với mồ mả khi di chuyển phát hiện có nhiều tiểu (thi hài) trong một mồ mả, thì mỗi tiểu (thi hài) được coi là một mồ mả và được tính bồi thường theo quy định tại khoản 1 Điều này.

4. Đối với nghĩa trang liệt sĩ hoặc mồ mả của người nước ngoài thì hồ sơ dự toán gửi tới Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện thẩm định trước khi trình phê duyệt cùng với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp xã) và Tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường thực hiện di chuyển đến nơi quy định.

5. Trường hợp mồ mả trong phạm vi đất thu hồi phải di dời mà vắng chủ hoặc không có người thân (không có chủ) thực hiện việc di dời thì Tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có mồ mả phải di dời tiến hành các thủ tục di dời mồ mả theo phong tục, tập quán tại địa phương; kinh phí di dời được tính trong kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án khi thu hồi đất. Chi phí được áp dụng theo mức bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này.

6. Trường hợp mồ mả của đồng bào dân tộc thiểu số không có tập quán di chuyển và không cần phải di chuyển ra khỏi phạm vi thu hồi đất thì được hỗ trợ làm lễ tâm linh theo phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc đó; mức hỗ trợ là 3.000.000 (Ba triệu) đồng/01 mồ mả.