Điều 16. Suất tái định cư tối thiểu và hỗ trợ tái định cư (khoản 10 Điều 111 Luật Đất đai và điểm c khoản 1 Điều 24 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP)
1. Suất tái định cư tối thiểu theo quy định tại khoản 10 Điều 111 của Luật Đất đai và điểm c khoản 1 Điều 24 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP được quy định bằng đất ở hoặc bằng nhà ở hoặc bằng tiền để phù hợp với việc lựa chọn của người được bố trí tái định cư.
2. Suất tái định cư tối thiểu được quy định bằng đất ở có diện tích bằng diện tích tối thiểu được tách thửa đối với đất ở do Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định; suất tái định cư tối thiểu được quy định bằng nhà ở thì diện tích nhà ở tái định cư bằng diện tích tối thiểu theo quy định của pháp luật về nhà ở.
3. Trường hợp suất tái định cư tối thiểu được tính bằng tiền thì khoản tiền cho một suất tái định cư tối thiểu bằng giá đất ở có cùng vị trí, khu vực quy định trong Bảng giá đất nhân (x) với diện tích suất tái định cư tối thiểu bằng đất ở theo quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Hỗ trợ giao đất ở có thu tiền sử dụng đất cho các hộ gia đình còn thiếu theo quy định tại khoản 4 và khoản 10 Điều 111 của Luật Đất đai như sau:
Hộ gia đình, cá nhân có đất ở, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất đủ điều kiện được bồi thường về đất ở theo quy định tại Điều 95 của Luật Đất đai mà trong hộ gia đình có nhiều thế hệ hoặc có nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở bị thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở bị thu hồi mà diện tích đất ở được bồi thường không đủ để giao riêng cho từng hộ gia đình thì Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi có đất thu hồi xem xét hỗ trợ để giao đất ở có thu tiền sử dụng đất cho các hộ gia đình còn thiếu. Diện tích 01 (một) suất đất ở bằng hạn mức giao đất ở do Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.