Điều 6. Công nhận hoặc thu hồi bằng công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống
1. Hồ sơ, trình tự đề nghị xét công nhận hoặc thu hồi bằng công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống:
Áp dụng quy định theo khoản 1, 2, 3, 4, 6 Điều 6 của Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn.
2. Thời gian xét công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống
a) Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện) lập hồ sơ đề nghị công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống theo quy định tại khoản 1, Điều 6 của quy định này và gửi hồ sơ về Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trước ngày 30 tháng 9 hàng năm.
b) Trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ (hồ sơ được lập theo đúng nội dung, trình tự, thủ tục và thời gian theo quy định), Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trình Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập Hội đồng xét duyệt và tiến hành thẩm định, chọn những đối tượng đủ tiêu chuẩn theo quy định, hoàn chỉnh hồ sơ trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét ra quyết định và cấp bằng công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống trong tháng 10 hàng năm.
3. Thời gian xét thu hồi bằng công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống.
Nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống đã được cấp bằng công nhận, nếu không đạt tiêu chí theo quy định sẽ bị thu hồi bằng công nhận. Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổng hợp danh sách, gửi Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Trình tự, thời gian xét thu hồi Bằng công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống thực hiện theo khoản 2 Điều này.