Điều 5. Chính sách về giao đất, cho thuê đất
1. Tuỳ theo điều kiện thực tế và từng trường hợp cụ thể; cơ sở thực hiện xã hội hoá được Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét quyết định giao đất hoặc cho thuê đất đã hoàn thành giải phóng mặt bằng để xây dựng các công trình xã hội hoá theo các hình thức sau:
a) Giao đất không thu tiền sử dụng đất;
b) Cho thuê đất và miễn tiền thuê đất trong thời hạn được Uỷ ban nhân dân tỉnh cho thuê đất;
c) Giao đất có thu tiền sử dụng đất và được miễn nộp tiền sử dụng đất trong thời hạn được Uỷ ban nhân dân tỉnh giao đất.
Riêng đối với đất đô thị, đất ở; các cơ sở thực hiện xã hội hoá được Uỷ ban nhân dân tỉnh giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất có thu tiền thuê đất; đồng thời được miễn nộp tiền sử dụng đất hoặc miễn tiền thuê đất đối với đất có mục đích sử dụng là sản xuất kinh doanh dịch vụ, đất ở thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai.
2. Trường hợp chủ đầu tư đã ứng trước kinh phí bồi thường, hỗ trợ tái định cư dự án xã hội hoá theo phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt (kể từ ngày Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ có hiệu lực thi hành) thì số kinh phí bồi thường, hỗ trợ tái định cư đã đầu tư đối với diện tích đất phục vụ hoạt động xã hội hoá sẽ được Ngân sách nhà nước hoàn trả.
a) Thủ tục thực hiện hoàn trả gồm:
a1) Quyết định phê duyệt phương án, bồi thường hỗ trợ tái định cư dự án xã hội hoá theo phương án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
a2) Văn bản xác nhận phần diện tích phục vụ hoạt động xã hội hoá của cơ quan Tài nguyên và Môi trường;
a3) Hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án xã hội hoá.
b) Thời gian hoàn trả: Phân kỳ hoàn trả chia làm hai đợt
b1) Đợt đầu: Hoàn trả 50% tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án xã hội hoá theo phương án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt đối với phần diện tích phục vụ hoạt động xã hội hoá trong niên độ ngân sách của năm mà chủ đầu tư đề nghị.
b2) Đợt cuối: Hoàn trả 50% tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án xã hội hoá theo phương án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt đối với phần diện tích phục vụ hoạt động xã hội hoá còn lại trong niên độ ngân sách của năm tiếp theo.
c) Sở Tài chính có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành có liên quan tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh bố trí nguồn kinh phí hoàn trả kinh phí bồi thường, hỗ trợ tái định cư dự án xã hội hoá theo phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt mà chủ đầu tư đã ứng trước theo quy định.
3. Trường hợp cơ sở thực hiện xã hội hoá có nguyện vọng được thực hiện theo phương thức giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê để thực hiện dự án đầu tư (không thực hiện theo quy định miễn giảm tiền sử dụng đất) thì Uỷ ban nhân dân tỉnh sẽ xem xét, quyết định theo thẩm quyền việc giao đất, cho thuê đất cho chủ đầu tư dự án xã hội hoá theo quy định hiện hành về thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê. Trong trường hợp này cơ sở thực hiện xã hội hoá được trừ chi phí bồi thường đất, hỗ trợ đất đã ứng trước (nếu có) vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp; được tính giá trị quyền sử dụng đất, giá trị thuê đất vào giá trị tài sản của dự án đầu tư và có các quyền và nghĩa vụ như tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền một lần theo quy định của pháp luật hiện hành về đất đai.
4. Trường hợp cơ sở công lập, bán công chuyển đổi loại hình cơ sở thực hiện xã hội hoá nếu đáp ứng được các điều kiện được hưởng chính sách khuyến khích phát triển xã hội hoá được quy định quy định tại Điều 2 Quy định này thì được tiếp tục sử dụng diện tích đất đang sử dụng dưới các hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất, hoặc giao đất có thu tiền sử dụng đất nhưng được miễn tiền sử dụng đất, hoặc cho thuê đất theo quy định tại khoản 1 và 3 Điều này.
5. Trình tự và thủ tục giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về đất đai. Đối với đất không đưa vào sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích cơ sở thực hiện xã hội hoá phải trả lại cho Nhà nước.
6. Cơ sở thực hiện xã hội hoá phải sử dụng đất đúng mục đích và phù hợp với quy hoạch; trường hợp sử dụng đất không đúng mục đích thì cơ sở thực hiện xã hội hoá bị thu hồi đất theo quy định của pháp luật về đất đai, đồng thời phải nộp ngân sách nhà nước toàn bộ tiền thuê đất được miễn theo giá đất tại thời điểm bị thu hồi đối với thời gian sử dụng không đúng mục đích và phải nộp ngân sách nhà nước những khoản mà cơ sở thực hiện xã hội hoá được ưu đãi theo quy định.
7. Cơ sở thực hiện xã hội hoá được giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất nhưng được miễn tiền sử dụng đất, cho thuê đất nhưng miễn tiền thuê đất phải thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Đất đai; không được tính giá trị quyền sử dụng đất đang sử dụng vào giá trị tài sản của dự án đầu tư và không được dùng để thế chấp làm tài sản vay vốn.
8. Cơ sở thực hiện xã hội hoá không được chuyển nhượng đất đã được giao để thực hiện dự án xã hội hoá. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định cho phép chuyển nhượng cơ sở thực hiện xã hội hoá thì phải bảo đảm việc chuyển nhượng không làm thay đổi mục đích sử dụng đất phục vụ xã hội hoá. Trong trường hợp này việc thu hồi lại đất đã giao cho chủ đầu tư cũ để giao đất hoặc cho thuê đất đối với chủ đầu tư mới thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về đất đai.
9. Các cơ quan nhà nước khi quy hoạch hoặc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh (bao gồm cả các khu đô thị mới, khu công nghiệp) phải bố trí quỹ đất dành cho các lĩnh vực xã hội hoá; thực hiện việc công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất dành cho các lĩnh vực xã hội hoá và quy trình, thủ tục giải quyết việc giao đất, cho thuê đất đối với cơ sở thực hiện xã hội hoá.