Điều 6. Xác định giá khởi điểm để bán đấu giá tang vật, phương tiện bị tịch thu sung quỹ nhà nước do vi phạm hành chính
1. Giá trị tang vật đã được xác định theo quy định tại Điều 60 Luật Xử lý vi phạm hành chính làm giá khởi điểm của tang vật bán đấu giá.
2. Trong các trường hợp sau đây thì phải thành lập Hội đồng để xác định giá khởi điểm:
a) Tang vật, phương tiện vi phạm hành chính khi chuyển giao để bán đấu giá chưa được xác định giá trị;
b) Thời điểm dự kiến tổ chức bán đấu giá vượt quá 60 ngày, kể từ ngày xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 60 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
c) Giá trị tang vật đã được xác định theo quy định tại Điều 60 Luật Xử lý vi phạm hành chính chênh lệch (cao hơn hoặc thấp hơn) từ 10% trở lên so với giá của mặt hàng cùng loại theo thông báo giá của Sở Tài chính tại thời điểm chuyển giao để bán đấu giá. Trường hợp không có thông báo giá thì theo giá thị trường tại thời điểm xác định.
Thành phần Hội đồng, nguyên tắc hoạt động, chi phí hoạt động của Hội đồng xác định giá khởi điểm để bán đấu giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; nguyên tắc, phương pháp và trình tự xác định giá khởi điểm để bán đấu giá được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính tại Thông tư số 137/2010/TT-BTC ngày 15/9/2010 quy định việc xác định giá khởi điểm của tài sản nhà nước bán đấu giá và chế độ tài chính của Hội đồng bán đấu giá tài sản nhà nước.
3. Việc xác định lại giá khởi điểm tang vật, phương tiện tịch thu sung quỹ nhà nước do vi phạm hành chính trong trường hợp bán đấu giá không thành được thực hiện giống như việc xác định giá lần đầu. Tuy nhiên mỗi lần giảm giá không quá 10% giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá.
Sau hai lần giảm giá mà cuộc bán đấu giá tài sản vẫn không thành thì việc xử lý tài sản bán đấu giá được thực hiện theo Khoản 6, Điều 3.
Trình tự, thủ tục thanh lý tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.