vanban.org

Điều 21. Thanh tra, kiểm tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực bảo vệ bí mật Nhà nước — Quyết định 41/2008/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/05/2017 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 15/05/2017 Thay thế: 32/2017/QĐ-UBND · 03/05/2017
Lâm Đồng Ban hành 16/09/2008 Hiệu lực 26/09/2008 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 6 phiên bản · 18 năm
Quyết định số 32/2022/QĐ-UBND Ban hành Quy chế bảo vệ bí mật nhà nước trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng · 32/2022/QĐ-UBND
Quyết định số 32/2017/QĐ-UBND Ban hành Quy chế bảo vệ bí mật nhà nước trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng · 32/2017/QĐ-UBND
Quyết định số 41/2008/QĐ-UBND Ban hành Quy chế bảo vệ bí mật Nhà nước tỉnh Lâm Đồng. · 41/2008/QĐ-UBND
15/05/201732/2017/QĐ-UBNDSửa đổi Đang xem 26/09/2008Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 41/2008/QĐ-UBND › Chương III › Điều 21
Đọc toàn văn

Điều 21. Thanh tra, kiểm tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực bảo vệ bí mật Nhà nước

1. Thanh tra, kiểm tra công tác bảo vệ bí mật Nhà nước được tiến hành đối với từng việc, một số việc hoặc toàn diện với từng cá nhân, từng khâu công tác, từng cơ quan, xí nghiệp, tổ chức, đoàn thể trong phạm vi tỉnh Lâm Đồng.

2. Giám đốc Công an tỉnh có nhiệm vụ tổ chức thực hiện thanh tra định kỳ hoặc đột xuất trong lĩnh vực bảo vệ bí mật Nhà nước đối với các cơ quan, đoàn thể, tổ chức, các địa phương trong tỉnh và cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh. Thanh tra định kỳ đối với các huyện, thị xã, thành phố, các cơ quan đơn vị cấp tỉnh và cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh phải được tiến hành ít nhất 2 năm 1 lần, đối với các đơn vị cơ sở ít nhất mỗi năm 1 lần. Các cơ quan, đơn vị được thanh tra có trách nhiệm phối hợp, cử cán bộ tham gia và tạo điều kiện để công tác thanh tra đạt kết quả.

3. Giám đốc các sở, Thủ trưởng các ban, ngành, đoàn thể; các cơ quan Trung ương, các đơn vị quân đội đóng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng; Chủ tịch UBND các huyện, thị xã và thành phố tổ chức thực hiện kiểm tra về công tác bảo vệ bí mật Nhà nước trong phạm vi quản lý của mình; sau mỗi lần kiểm tra phải có biên bản lưu và gửi cho cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp theo hệ thống dọc; đồng thời gửi Công an tỉnh để theo dõi.

4. Việc thanh tra, kiểm tra công tác bảo vệ bí mật Nhà nước phải đánh giá đúng ưu điểm, khuyết điểm; phát hiện những thiếu sót, sơ hở và kiến nghị các biện pháp khắc phục.

5. Khi có khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực bí mật Nhà nước, Công an tỉnh phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan để giải quyết theo quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo.