vanban.org

Điều 5. Phân công vai trò, trách nhiệm bảo đảm an ninh an toàn mạng — Quyết định 40/2025/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 20/10/2025 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bắc Ninh Ban hành 09/10/2025 Hiệu lực 20/10/2025 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 40/2025/QĐ-UBND › Chương II › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Phân công vai trò, trách nhiệm bảo đảm an ninh an toàn mạng

1. Chủ quản hệ thống thông tin

a) Ủy ban nhân dân tỉnh là chủ quản các hệ thống thông tin do các đơn vị (bao gồm đơn vị tham mưu, đơn vị hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước) thuộc phạm vi quản lý làm chủ đầu tư.

b) Cơ quan, đơn vị trực thuộc được Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định là chủ quản hệ thống thông tin đối với các hệ thống thông tin do đơn vị tự quyết định đầu tư, nếu đáp ứng hai điều kiện sau đây:

- Một là, có đủ năng lực thực thi quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định số 85/2016/NĐ-CP, cụ thể:

Người đứng đầu đơn vị phải chỉ định được đơn vị trực thuộc làm đơn vị chuyên trách về an toàn thông tin theo quy định tại khoản 5 Điều 3 và điểm b khoản 1 Điều 20 Nghị định số 85/2016/NĐ-CP;

Đơn vị được chỉ định là đơn vị chuyên trách về an toàn thông tin phải đáp ứng các điều kiện: Là một đơn vị trực thuộc của chủ quản hệ thống thông tin, có chức năng, nhiệm vụ bảo đảm an toàn thông tin hoặc được giao nhiệm vụ là đơn vị chuyên trách về công nghệ thông tin của chủ quản hệ thống thông tin; Có năng lực để bảo đảm thực thi các quy định tại Điều 21 Nghị định số 85/2016/NĐ-CP, trong đó: có nhân sự đáp ứng yêu cầu chuyên môn, đảm bảo tổ chức thẩm định hồ sơ đề xuất cấp độ; có tư cách pháp nhân để ban hành quyết định phê duyệt cấp độ an toàn thông tin đối với các hệ thống thông tin được đề xuất cấp độ 1, 2 theo thẩm quyền được giao tại khoản 1 Điều 12 Nghị định số 85/2016/NĐ-CP, phù hợp các quy định của pháp luật về dân sự và các quy định của pháp luật có liên quan;

- Hai là, có đủ năng lực để thực thi đầy đủ các quy định tại khoản 2 Điều 20 Nghị định số 85/2016/NĐ-CP.

c) Trách nhiệm của chủ quản hệ thống thông tin quy định tại khoản 2 Điều 20 Nghị định số 85/2016/NĐ-CP.

2. Đơn vị chuyên trách về an toàn thông tin

a) Công an tỉnh đảm nhiệm vai trò đơn vị chuyên trách về an toàn thông tin đối với các hệ thống thông tin do UBND tỉnh làm chủ quản.

b) Chủ quản hệ thống thông tin thành lập hoặc chỉ định bộ phận chuyên trách an toàn thông tin thuộc đơn vị của chủ quản hệ thống thông tin.

c) Công an tỉnh là đầu mối liên hệ, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý về an ninh an toàn mạng phục vụ việc bảo đảm an ninh an toàn mạng cho các hệ thống thông tin do UBND tỉnh làm chủ quản.

d) Công an tỉnh là đầu mối, tổ chức thực hiện việc tiếp nhận và điều phối, xử lý các sự cố về an ninh an toàn mạng. Phối hợp với Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao - Bộ Công an và các đơn vị có liên quan, hướng dẫn xử lý, ứng cứu các sự cố an ninh an toàn mạng.

đ) Đơn vị chuyên trách về an toàn thông tin mạng thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và các nhiệm vụ khác do chủ quản hệ thống thông tin giao.

3. Đơn vị vận hành hệ thống thông tin

a) Là cơ quan, đơn vị được chủ quản hệ thống thông tin giao nhiệm vụ vận hành hệ thống thông tin.

b) Là chủ đầu tư dự án đối với các dự án đầu tư, chủ trì thuê dịch vụ công nghệ thông tin.

c) Trường hợp hệ thống thông tin đang trong thời gian thuê dịch vụ công nghệ thông tin, đơn vị cung cấp dịch vụ thực hiện vai trò đơn vị vận hành hệ thống thông tin.

d) Trách nhiệm của đơn vị vận hành hệ thống thông tin quy định tại Điều 22 Nghị định số 85/2016/NĐ-CP.

đ) Ban hành, tham mưu ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác, đảm bảo an ninh an toàn hệ thống thông tin.

e) Đối với hệ thống thông tin đáp ứng tiêu chí hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, đơn vị vận hành hệ thống thông tin lập hồ sơ đề nghị đưa hệ thống thông tin vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, trình UBND tỉnh (thông qua Công an tỉnh) gửi Bộ Công an thẩm định.