Điều 8. Khai thác, chế biến khoáng sản vật liệu xây dựng thông thường
1. Hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường phải tuân theo các quy định về khai thác khoáng sản.
2. Khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, trừ cát, sỏi lòng sông, với công suất khai thác không quá 100.000 m3/năm và thời gian khai thác (kể cả thời gian gia hạn) không quá 05 năm thì không bắt buộc phải tiến hành thăm dò khoáng sản.
3. Khai thác đất vật liệu dùng để san lấp mặt bằng được hoạt động trên cơ sở đảm bảo các yêu cầu sau:
a) Hoạt động khai thác không gây tác động xấu đến môi trường (đất, nước, không khí...), cảnh quan; di tích lịch sử- văn hoá; an ninh quốc phòng; không làm ảnh hưởng các công trình giao thông, thuỷ lợi, đê điều, thông tin, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, khu bảo tồn thiên nhiên và điều kiện phát triển kinh tế- xã hội của địa phương;
b) Trình tự, thủ tục cấp phép khai thác được áp dụng theo Điều 11 và Điều 12 của Quy định này.
4. Các trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường sau đây không phải xin cấp giấy phép khai thác, nhưng phải đăng ký hồ sơ tại UBND cấp huyện và được UBND cấp huyện đồng ý bằng văn bản:
Việc tận dụng đất làm nguyên liệu sản xuất gạch ngói hoặc đất làm vật liệu san lấp trong quá trình cải tạo đồng ruộng, chuyển đổi đất nông, lâm nghiệp sang nuôi trồng thuỷ sản, cải tạo vườn đồi của hộ gia đình. Hồ sơ đăng ký nộp tại Phòng Tài nguyên và Môi trường, gồm:
a) Phương án cải tạo đồng ruộng hoặc dự án nuôi trồng thuỷ sản hoặc phương án cải tạo vườn đồi được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
b) Bản đồ hiện trạng khu đất và bản đồ mặt bằng thiết kế khu đất sau khi kết thúc cải tạo;
c) Kế hoạch thực hiện và khối lượng đất, sét tận dụng.
Các trường hợp không phải xin cấp phép khai thác còn lại theo quy định của pháp luật khoáng sản hiện hành.