vanban.org

Điều 23. Về bảo vệ, và phát triển rừng — Quyết định 3868/2010/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/03/2020 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/03/2020 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 04/2020/QĐ-UBND · 13/02/2020
Hà Giang Ban hành 07/12/2010 Hiệu lực 17/12/2010 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 15 năm
Quyết định số 3868/2010/QĐ-UBND Về việc ban hành quy ước mẫu của thôn, bản, tổ dân phố trên địa bàn Tỉnh Hà Giang · 3868/2010/QĐ-UBND
01/03/202004/2020/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 17/12/2010Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 3868/2010/QĐ-UBND › Chương VI › Điều 23
Đọc toàn văn

Điều 23. Về bảo vệ, và phát triển rừng

1. Công tác bảo vệ rừng

a) Mọi người trong thôn có trách nhiệm bảo vệ hệ sinh thái rừng; không chăn thả gia súc vào rừng; săn, bắt, bẫy… động vật trong rừng; phòng chống việc chặt, phá, khai thác rừng; phòng cháy, chữa cháy rừng và phòng trừ sâu bệnh hại rừng theo quy định của pháp luật.

b) Trong mùa hanh khô các cá nhân, hộ gia đình và chủ rừng chủ động làm đường băng cản lửa những khu vực trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng ở các khu rừng tự nhiên, rừng trồng. Việc canh tác nương rẫy trong rừng, ven rừng phải tuân thủ hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của trưởng thôn, cán bộ lâm nghiệp và kiểm lâm trên địa bàn.

2. Công tác phát triển rừng

a) Đối với rừng phòng hộ: Mọi người dân trong thôn được giao rừng và đất lâm nghiệp tự bỏ vốn trồng rừng để tập trung khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh rừng, chăm sóc làm giàu rừng và trồng dặm các loài cây dưới tán rừng.

b) Đối với rừng sản xuất: Mọi người dân trong thôn tham gia trồng rừng khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh rừng để làm giàu rừng bằng vốn hỗ trợ của nhà nước và tự bỏ vốn trồng rừng tập trung hoặc chia cho hộ gia đình.

c) Khi chủ rừng khai thác rừng đã đến tuổi khai thác thì chủ rừng phải làm đơn xin phép khai thác và thống kê số cây, diện tích, khối lượng cần chặt hạ và trình cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép khai thác.

d) Khi chủ rừng có nhu cầu khai thác, tận thu đối với rừng tự nhiên, rừng phòng hộ đã được nhà nước giao thì chủ rừng phải làm đơn xin phép khai thác và thống kê số cây, diện tích, khối lượng cần chặt hạ trình Trưởng thôn, UBND xã xác nhận và gửi UBND cấp huyện cấp giấy phép khai thác. Gỗ khai thác phải được đóng dấu búa Kiểm lâm thì mới được phép lưu thông.

3. Nếu cá nhân, hộ gia đình, tổ chức nào vi phạm khoản 1 và khoản 2 Điều này bị phê bình nhắc nhở trước cuộc họp toàn dân và lập biên bản gửi cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật

(Những nội dung về Bảo vệ và phát triển rừng chỉ ghi trong Quy ước của thôn có rừng)