Điều 15. Việc đăng ký hộ tịch, hộ khẩu
1. Về đăng ký hộ tịch
a) Các trường hợp khai sinh, khai tử, kết hôn, nuôi con nuôi, nhận cha, mẹ, con phải đăng ký tại UBND xã theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
b) Trẻ em khi sinh ra phải làm thủ tục đăng ký khai sinh trong vòng 60 ngày.
c) Việc kết hôn phải được đăng ký trước khi hai bên gia đình nam, nữ tổ chức đám cưới hoặc trước khi hai bên nam, nữ chung sống với nhau.
d) Việc giám hộ phải được đăng ký sau khi nhận giám hộ.
đ) Việc nhận cha, mẹ, con phải được đăng ký trước khi cha, mẹ, con về chung sống với nhau.
2. Về đăng ký hộ khẩu
a) Sau khi đăng ký hộ tịch phải thực hiện đăng ký hộ khẩu trong các trường hợp sau:
- Trẻ em sau khi đăng ký khai sinh còn cư trú tại địa phương;
- Đăng ký nhập khẩu trong trường hợp vợ hoặc chồng về sống chung với nhau;
- Con nuôi về sống chung với cha mẹ nuôi; con về ở với cha, mẹ hoặc cha, mẹ về ở với con;
- Người được giám hộ về sống chung với người giám hộ;
- Đối với trường hợp khai tử phải làm thủ tục theo quy định của pháp luật.
b) Khi có người chuyển đến cư trú lâu dài phải thực hiện đăng ký nhập khẩu, nếu có người chuyển đi phải thực hiện đăng ký chuyển khẩu.
c) Công dân của thôn đi làm ăn xa hoặc có việc cần đi xa dài ngày phải kê khai tạm vắng và xin giấy chứng nhận của chính quyền địa phương.
Hộ gia đình có người lạ lưu trú qua đêm phải báo với Trưởng thôn, nếu không báo, khi có vụ việc đáng tiếc xảy ra hộ có người lưu trú phải chịu trách nhiệm trước thôn và trước pháp luật.
3. Nếu ai vi phạm các quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này sẽ bị phê bình trước cuộc họp toàn thôn và sẽ bị thôn lập biên bản để đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.