Điều 9. Hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất:
1. Hỗ trợ ổn định đời sống:
Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp (kể cả đất vườn, ao và đất nông nghiệp quy định tại Điều 8 của Quy định này) thì được hỗ trợ ổn định đời sống theo quy định sau:
a) Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian là:
06 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở;
12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở;
24 tháng nếu phải di chuyển đến địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (địa bàn có mức phụ cấp khu vực từ 0,5 trở lên);
b) Thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian là:
12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở;
24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở;
36 tháng nếu phải di chuyển đến địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (địa bàn có mức phụ cấp khu vực từ 0,5 trở lên);
c) Mức hỗ trợ:
Mức hỗ trợ được tính bằng: Số nhân khẩu x 30 kg gạo/tháng x Đơn giá gạo x Thời gian hỗ trợ.
Trong đó: Đơn giá gạo được áp dụng theo giá gạo tẻ thường tại báo cáo giá thị trường tại thời điểm phê duyệt phương án đền bù (đơn giá chuẩn lấy theo tổng hợp của Cục thống kê tỉnh Bắc Kạn);
2. Đối với tổ chức kinh tế, hộ sản xuất, kinh doanh có đăng ký kinh doanh.
Khi Nhà nước thu hồi đất của tổ chức kinh tế, hộ sản xuất, kinh doanh có đăng ký kinh doanh đang hoạt động mà bị ngừng sản xuất, kinh doanh thì được hỗ trợ bằng 30% một năm thu nhập sau thuế, theo mức thu nhập bình quân của 03 năm liền kề trước đó được cơ quan thuế xác nhận;