Điều 14. Chế độ báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước
1. Giám đốc, Thủ trưởng các sở, ban, ngành, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường trong phạm vi quản lý gửi báo cáo về Ủy ban nhân dân tỉnh (qua Công an tỉnh) theo thời hạn như sau:
a) Định kỳ hằng năm, gửi báo cáo sơ kết công tác bảo vệ bí mật nhà nước trước ngày 15/12 hàng năm (thời hạn chốt số liệu tính từ ngày 15/12 năm trước đến ngày 14/12 của kỳ báo cáo) hoặc khi có văn bản yêu cầu của Ủy ban nhân dân tỉnh. Nội dung báo cáo thực hiện theo khoản 2 Điều 14 Nghị định số 63/2026/NĐ-CP;
b) Năm năm một lần, các cơ quan, đơn vị tổng kết tình hình công tác bảo vệ bí mật nhà nước. Nội dung và thời gian báo cáo thực hiện theo hướng dẫn của Ủy ban nhân dân tỉnh;
c) Báo cáo đột xuất được thực hiện ngay sau khi xảy ra lộ, mất bí mật nhà nước hoặc phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước hoặc theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân tỉnh.
2. Công an tỉnh có trách nhiệm tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh sơ kết, tổng kết công tác bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định.