Điều 14. Nguyên tắc trong quản lý trật tự xây dựng và cơ quan nhà nước có trách nhiệm quản lý về trật tự xây dựng
1. Nguyên tắc quản lý trật tự xây dựng
a) Việc quản lý trật tự xây dựng phải được thực hiện từ khi tiếp nhận thông báo khởi công, khởi công xây dựng công trình cho đến khi công trình bàn giao đưa vào sử dụng nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời khi phát sinh vi phạm;
b) Cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ quản lý trật tự xây dựng nhưng thiếu tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ, buông lỏng quản lý hoặc có hành vi bao che, tiếp tay cho các trường hợp vi phạm quy định về trật tự xây dựng thì tùy theo tính chất, mức độ sai phạm để xử lý theo quy định của pháp luật;
c) Nội dung công việc liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan trong quản lý trật tự xây dựng phải tuân thủ quy định của pháp luật, bảo đảm không chồng chéo;
d) Cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan có trách nhiệm phối hợp trong hoạt động thanh tra, kiểm tra để phát hiện, ngăn chặn, xử lý các trường hợp vi phạm quy định về trật tự xây dựng. Những vướng mắc phát sinh trong quá trình phối hợp phải được bàn bạc, thống nhất giải quyết trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan. Trường hợp không thống nhất được hướng giải quyết, Sở Xây dựng hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm báo cáo, đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét quyết định.
2. Phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý trật tự xây dựng các công trình xây dựng trên địa bàn cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý trật tự xây dựng các công trình xây dựng trên địa bàn cấp xã (trừ công trình bí mật nhà nước). Trách nhiệm cụ thể của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện theo quy định tại Điều 15, Điều 16 Quy định này.