vanban.org

Điều 5. Chủ đầu tư — Quyết định 37/2021/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 30/12/2025 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 30/12/2025 Thay thế: 63/2025/QĐ-UBND · 30/12/2025 Sửa đổi, bổ sung: 34/2023/QĐ-UBND · 28/12/2023
Cao Bằng Ban hành 05/11/2021 Hiệu lực 18/11/2021 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 6 phiên bản · 7 năm
Quyết định số 63/2025/QĐ-UBND Ban hành Quy định một số nội dung về quản lý hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng · 63/2025/QĐ-UBND
Quyết định số 37/2021/QĐ-UBND Ban hành Quy định một số nội dung quản lý đầu tư và xây dựng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng · 37/2021/QĐ-UBND
Quyết định số 45/2018/QĐ-UBND Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định một số nội dung quản lý đầu tư và xây dựng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng ban hành kèm theo Quyết định số 39/2016/QĐ-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng · 45/2018/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 37/2021/QĐ-UBND › Chương II › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Chủ đầu tư

Chủ đầu tư do người quyết định đầu tư quyết định trước khi lập dự án hoặc khi phê duyệt dự án hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật có liên quan theo quy định tại Điều 7 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng năm 2020 (sau đây viết tắt là Luật số 62/2020/QH14). Chủ đầu tư dự án sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công do địa phương quản lý quy định như sau:

1. Dự án do Ủy ban nhân dân tỉnh (sau đây viết tắt là UBND tỉnh) quyết định đầu tư, trừ trường hợp quy định tại khoản 4, khoản 5, khoản 6 Điều này:

a) Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, Công an tỉnh làm chủ đầu tư đối với dự án thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh do mình quản lý;

b) Ban Quản lý khu kinh tế tỉnh làm chủ đầu tư đối với các dự án đầu tư công trình kết cấu hạ tầng theo quy hoạch xây dựng của khu công nghiệp và các khu chức năng trong khu kinh tế (khu phi thuế quan, các khu vực cửa khẩu, khu chức năng khác) được giao quản lý;

c) Ban quản lý dự án (sau đây viết tắt là Ban QLDA) chuyên ngành, khu vực cấp tỉnh làm chủ đầu tư đối với các dự án còn lại.

2. Dự án đầu tư xây dựng do Ủy ban nhân dân huyện, Thành phố (sau đây viết tắt là UBND cấp huyện) quyết định đầu tư hoặc được ủy quyền quyết định đầu tư thì giao Ban QLDA chuyên ngành, khu vực cấp huyện đó làm chủ đầu tư; trừ trường hợp quy định tại khoản 4, khoản 5, khoản 6 Điều này.

3. Dự án đầu tư xây dựng do Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây viết tắt là UBND cấp xã) quyết định đầu tư, dự án có sự đóng góp của cộng đồng thì UBND cấp xã làm chủ đầu tư. Đối với công trình có yêu cầu kỹ thuật cao, đòi hỏi có trình độ chuyên môn mà UBND cấp xã không đủ điều kiện thực hiện, UBND cấp xã có văn bản đề nghị UBND cấp huyện giao cho Ban QLDA chuyên ngành, khu vực cấp huyện làm chủ đầu tư và có sự tham gia của UBND cấp xã.

4. Đơn vị quản lý, sử dụng công trình làm chủ đầu tư đối với dự án cải tạo, nâng cấp, sửa chữa, bảo trì công trình do mình quản lý có tổng mức đầu tư dưới 5 tỷ đồng. Đối với các công trình bảo dưỡng, sửa chữa tài sản công sử dụng nguồn Ngân sách nhà nước, chủ đầu tư là đơn vị được giao quản lý, sử dụng vốn.

5. Đối với dự án đầu tư có tính chất hỗn hợp; dự án có tính chất đặc thù riêng theo ngành, lĩnh vực; dự án có cấu phần xây dựng chiếm tỷ lệ dưới 50% hoặc dự án Ban QLDA không đủ điều kiện thực hiện thì người quyết định đầu tư giao cơ quan, tổ chức có kinh nghiệm, năng lực quản lý làm chủ đầu tư.

6. Trường hợp có các quy định riêng đối với các dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia, dự án sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài thì việc xác địch chủ đầu tư thực hiện theo các quy định riêng của văn bản cấp trên; theo Hiệp định đã ký kết, các văn bản của nhà tài trợ nước ngoài và văn bản của các bộ, ngành liên quan.

7. Việc giao nhiệm vụ chủ đầu tư phải đảm bảo nguyên tắc phân định rõ chức năng quản lý nhà nước trong hoạt động đầu tư xây dựng với chức năng quản lý của chủ đầu tư phù hợp với từng loại nguồn vốn sử dụng. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm trước pháp luật, người quyết định đầu tư và cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong phạm vi các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.