Điều 7. Định giá khởi điểm tài sản bán đấu giá
1. Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá được xác định trước khi chuyển giao tài sản bán đấu giá hoặc ký kết hợp đồng bán đấu giá, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Việc xác định giá khởi điểm của tài sản được thực hiện như sau:
a) Đối với tài sản bán đấu giá là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thì giá khởi điểm được xác định theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và Thông tư số 137/2010/TT-BTC ngày 15/9/2010 của Bộ Tài chính; trong trường hợp không xác định được giá tài sản theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thì thành lập hội đồng để xác định giá tài sản;
b) Đối với tài sản bán đấu giá để thi hành án thì giá khởi điểm được xác định theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự;
c) Đối với tài sản là tang chứng, vật chứng trong vụ án hình sự được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định bán đấu giá thì giá khởi điểm được xác định theo quy định của pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự và pháp luật khác có liên quan;
d) Đối với tài sản bán đấu giá là tài sản nhà nước thì giá khởi điểm được xác định theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và Thông tư số 137/2010/TT-BTC ngày 15/9/2010 của Bộ Tài chính;
đ) Đối với tài sản là quyền sử dụng đất được bán đấu giá để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất và quyền sử dụng đất ở trong vùng nông thôn được bán đấu giá hạn chế thì giá khởi điểm được xác định theo quy định tại Điều 28 của Quy chế này;
e) Đối với tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức có yêu cầu bán đấu giá, thì giá khởi điểm do tổ chức, cá nhân tự xác định hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác xác định.