Điều 36. Hỗ trợ khác
1. Hỗ trợ giá bồi thường đất nông nghiệp thuần (đất nông nghiệp không xen kẽ trong khu dân cư, đất vườn ao không liền kề với đất ở trong khu dân cư) cho người bị thu hồi đất thuộc dự án nằm dọc sát tuyến đường giao thông chính, tuyến kênh chính; dự án liền kề với khu công nghiệp, khu thương mại, khu du lịch, khu đô thị mới không phải đất nông nghiệp thuộc quy định tại Điều 43 Nghị định 84/2007/NĐ-CP cụ thể như sau:
Người có đất nông nghiệp bị thu hồi ngoài việc bồi thường giá đất nông nghiệp còn được hỗ trợ 10% giá đất ở liền kề, giá đất ở liền kề xác định như sau:
- Tính từ mép đường giao thông, mép ngoài tuyến kênh chính, ranh giới khu công nghiệp, khu thương mại, khu du lịch, khu đô thị mới trong phạm vi đến 50 mét: giá đất ở để tính hỗ trợ cho đất nông nghiệp bằng giá đất ở quy định tại khu vực đó;
- Tính từ mép đường giao thông, mép ngoài tuyến kênh chính, ranh giới khu công nghiệp, khu thương mại, khu du lịch, khu đô thị mới từ trên 50 mét: giá đất ở để tính hỗ trợ bằng 50% mức hỗ trợ trong phạm vi 50 mét.
Đơn giá bồi thường và hỗ trợ cho 01m2 đất nông nghiệp không được cao hơn đơn giá đất ở liền kề trong cùng dự án
2. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất có mức sống thuộc diện hộ nghèo theo tiêu chí hộ nghèo do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội công bố trong từng thời kỳ (có sổ hộ nghèo) thì được hỗ trợ để vượt qua hộ nghèo trong 3 (ba) năm, mức hỗ trợ là 3.000.000 (ba triệu) đồng/năm.
3. Người bị thu hồi đất thực hiện bàn giao mặt bằng đúng quy định (trong thời hạn 20 (hai mươi) ngày, kể từ ngày quy định chi trả tiền bồi thường ghi trong thông báo của tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư gửi cho người bị thu hồi đất theo phương án đã được xét duyệt) thì được khen thưởng như sau:
3.1 Có giá trị bồi thường, hỗ trợ từ 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) trở lên:
- Thưởng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) đối với trường hợp di chuyển và bàn giao mặt bằng đúng quy định;
- Thưởng 2.500.000 đồng (hai triệu, năm trăm nghìn đồng) đối với trường hợp di chuyển và bàn giao mặt bằng trước ngày quy định trong phạm vi 15 ngày;
- Thưởng 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) đối với trường hợp di chuyển và bàn giao mặt bằng trước ngày quy định từ 16 ngày trở lên.
3.2. Có giá trị bồi thường, hỗ trợ từ 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) đến dưới 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng): mức thưởng bằng 75% mức thưởng quy định tại điểm 3.1 khoản 3 Điều này.
3.3. Thời gian tối đa các tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng đất gởi tờ trình đến Hội đồng thẩm định đề nghị xét khen thưởng cho từng dự án là 60 (sáu mươi) ngày kể từ ngày tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chi trả xong tiền bồi thường, hỗ trợ cho người bị thu hồi đất. Quá thời hạn nói trên các tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chịu trách nhiệm chi trả tiền khen thưởng từ nguồn kinh phí 2% chi phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho các hộ dân bị thu hồi đất đủ điều kiện khen thưởng.
Hồ sơ kèm theo tờ trình đề nghị xét khen thưởng phải có bản cam kết thời hạn bàn giao mặt bằng của các hộ có đất thu hồi (tại thời điểm nhận tiền bồi thường, hỗ trợ) và biên bản bàn giao mặt bằng giữa người có đất thu hồi, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng và các ngành chức năng liên quan.
Không xét khen thưởng đối với những trường hợp sử dụng đất lấn chiếm, xây nhà trên đất lấn chiếm, đất không đủ điều kiện bồi thường; xây nhà trái phép.
3.4. Đối với các dự án đầu tư không thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước và các dự án đầu tư không do công ty Nhà nước làm chủ đầu tư, chủ dự án (người được Nhà nước giao đất) có yêu cầu đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng trước thời gian quy định, chủ dự án có thể thưởng bằng tiền cho tổ chức được giao nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và các hộ bị thu hồi đất; mức thưởng do chủ đầu tư dự án thoả thuận và đưa vào phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt
4. Ngoài việc hỗ trợ quy định tại Điều 31, 32, 33, 34, 35 và khoản 1, 2, 3 Điều 36 của Quy định này tùy theo từng trường hợp cụ thể, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định biện pháp hỗ trợ khác để bảo đảm ổn định đời sống và sản xuất cho người bị thu hồi đất. Tiền hỗ trợ thêm do người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất chi trả.