Điều 4. Nguyên tắc phối hợp
1. Việc phối hợp thực hiện các nội dung nêu tại Điều 3 đảm bảo nguyên tắc phối hợp đã được quy định tại khoản 6 Điều 13 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.
2. Chủ động phối hợp, giải quyết hồ sơ theo chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực chuyên môn và địa bàn thuộc phạm vi quản lý của ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị. Văn bản, hồ sơ, tài liệu giải quyết phải nêu cụ thể rõ ràng, đầy đủ thông tin thể hiện quan điểm (thống nhất hay không thống nhất).
Trường hợp cơ quan phối hợp không có văn bản phúc đáp hoặc chậm trễ hoặc có nhưng không thể hiện rõ quan điểm, không đầy đủ thông tin theo nội dung được lấy ý kiến thì cơ quan chủ trì đề nghị cơ quan kiểm soát thủ tục hành chính tạm dừng giải quyết thủ tục, thông báo đến bên đề nghị giải quyết thủ tục về lý do tạm dừng.
Trong quá trình giải quyết nếu có vướng mắc do nguyên nhân khách quan thì cơ quan chủ trì chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan để thống nhất biện pháp giải quyết. Trường hợp vượt thẩm quyền, cơ quan chủ trì báo cáo cơ quan cấp trên trực tiếp.
3. Thời gian thực hiện các công việc phối hợp là số ngày làm việc, được tính kể từ ngày nhận được hồ sơ đã đảm bảo tính đầy đủ, thống nhất theo quy định pháp luật và theo Bộ thủ tục hành chính được ban hành.
Cơ quan chủ trì không chịu trách nhiệm với trường hợp giải quyết chậm trễ và thiếu thông tin của cơ quan phối hợp.