Điều 11. Xử lý nợ bị rủi ro
1. Đối với các khoản nợ bị rủi ro do nguyên nhân khách quan: Đối tượng được xem xét xử lý rủi ro, nguyên nhân khách quan làm thiệt hại trực tiếp đến vốn và tài sản của khách hàng, biện pháp xử lý, hồ sơ pháp lý để xem xét xử lý nợ bị rủi ro được áp dụng theo quy định của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế xử lý nợ bị rủi ro tại Ngân hàng Chính sách xã hội. Những trường hợp phải xử lý rủi ro khác, Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội thành phố (ngân sách thành phố), Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện (ngân sách huyện) phối hợp với Sở (Phòng), Ban, ngành liên quan báo cáo, tham mưu Chủ tịch UBND thành phố, Chủ tịch UBND huyện xem xét, quyết định.
2. Thẩm quyền xem xét xử lý nợ bị rủi ro:
a) Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội nơi cho vay tổng hợp, kiểm tra hồ sơ đề nghị xử lý khoanh nợ, xóa nợ trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định;
b) Chủ tịch UBND thành phố quyết định xử lý nợ bị rủi ro (đối với nguồn vốn ngân sách thành phố), Chủ tịch UBND huyện quyết định xử lý nợ bị rủi ro (đối với nguồn vốn ngân sách huyện);
c) Nguồn vốn để xử lý nợ bị rủi ro được lấy từ Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng đã được Ngân hàng Chính sách xã hội trích lập đối với cho vay người nghèo và các đối tượng chính sách khác từ nguồn ngân sách địa phương;
d) Trường hợp quỹ dự phòng rủi ro tín dụng không đủ bù đắp, tùy theo tình hình thực tế khoản vay bị rủi ro thuộc nguồn vốn ngân sách thành phố và ngân sách huyện; cơ quan Tài chính thành phố, huyện chủ trì phối hợp với Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội thành phố, Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện và các cơ quan đơn vị có liên quan báo cáo UBND thành phố, UBND huyện bổ sung ngân sách địa phương để xử lý hoặc giảm trực tiếp vào nguồn vốn ủy thác của ngân sách địa phương theo quy định.
3. Trường hợp Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng sau khi được sử dụng để xử lý xóa nợ bị rủi ro lớn hơn số dư Quỹ dự phòng rủi ro tối đa, số tiền vượt quỹ rủi ro tối đa được bổ sung vào nguồn vốn ủy thác để cho vay theo quy định.