Điều 7. Hỗ trợ khi thu hồi quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn
1. Hỗ trợ đối với quỹ đất công ích do UBND xã quản lý khi Nhà nước thu hồi theo quy định tại Điều 31 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP như sau:
a) Diện tích đất tính hỗ trợ: Theo quy định tại khoản 3, Điều 3 Quy định này;
b) Mức hỗ trợ bằng 100% giá đất tính bồi thường;
c) Tiền hỗ trợ được nộp vào ngân sách cấp xã. UBND xã căn cứ theo hợp đồng giao thầu đã ký kết với người nhận thầu, hồ sơ, chứng từ chứng minh chi phí đầu tư vào đất còn lại của người nhận thầu để trả cho người nhận thầu.
Việc xác định chi phí đầu tư còn lại vào đất thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 5 Thông tư số 14/2009/TT- BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất;
Trường hợp người nhận thầu không có hồ sơ, chứng từ về chi phí đã đầu tư vào đất còn lại thì UBND xã căn cứ vào thời gian còn lại của hợp đồng quyết định hỗ trợ cho người nhận thầu nhưng mức hỗ trợ không quá 50% giá đất nông nghiệp tương ứng và được giảm trừ theo tỷ lệ số năm đã sử dụng.
Trường hợp người nhận đấu thầu đất công ích của xã, phường, thị trấn được UBND xã, phường, thị trấn cho phép đào đắp đất hoặc san lấp mặt bằng để tạo ao nuôi trồng thuỷ sản hoặc thực hiện các mục đích khác (theo hợp đồng đã ký kết) thì chi phí đào đắp, san lấp và tài sản được tính bồi thường theo quy định. Ngoài các khoản trên, người nhận thầu đất công ích còn được bồi thường thiệt hại về tài sản, hoa mầu trên đất theo đơn giá quy định tại Điều 6 của Quy định này.
2. Tiền hỗ trợ trả cho ngân sách cấp xã (sau khi đã trừ phần bồi thường, hỗ trợ giá trị chi phí đầu tư vào đất còn lại cho người nhận thầu) chỉ được sử dụng vào mục đích đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng, sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.