Điều 15. Hỗ trợ tái định cư
Hỗ trợ tái định cư thực hiện theo Điều 19 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP, mục 2 Công văn số 310/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 29/01/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc giải quyết vướng mắc khi thực hiện Nghị định số 69/2009/NĐ-CP (sau đây gọi là Công văn số 310/BTNMT-TCQLĐĐ) và được quy định cụ thể như sau:
1. Suất tái định cư tối thiểu theo khoản 1 Điều 19 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP bao gồm một suất đất ở có diện tích nhỏ nhất và giá trị thấp nhất trong khu tái định cư được quy định như sau:
a) Hộ gia đình, cá nhân có số tiền bồi thường về đất ở và tiền hỗ trợ đối với đất nông nghiệp trong khu dân cư và đất vườn, ao không được công nhận là đất ở (nếu có) nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu thì được hỗ trợ khoản chênh lệch đó; trường hợp không nhận đất ở tại khu tái định cư thì được nhận tiền tương đương với khoản chênh lệch đó;
b) Tổ chức được giao nhiệm vụ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phối hợp với chủ đầu tư đề xuất giá trị suất tái định cư tối thiểu cụ thể cho từng dự án gửi cơ quan Tài chính; cơ quan Tài chính chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan thẩm định và trình cấp phê duyệt phương án bồi thường phê duyệt làm cơ sở tính toán phần hỗ trợ theo quy định.
2. Suất đầu tư hạ tầng theo khoản 2 Điều 19 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP để tính hỗ trợ được quy định như sau:
Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở mà tự lo chỗ ở thì được hỗ trợ một khoản tiền bằng suất đầu tư hạ tầng tính cho một hộ gia đình tại khu tái định cư tập trung; trừ trường hợp đã được nhận khoản tiền hỗ trợ tái định cư quy định tại khoản 1 Điều này.
Suất đầu tư hạ tầng tính cho một hộ gia đình tại khu tái định cư tập trung để hỗ trợ là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) đối với các phường; 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng) đối với các thị trấn và 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) đối với các xã còn lại và mỗi hộ đủ điều kiện chỉ được hỗ trợ một lần.