vanban.org

Điều 15. Tiêu hủy tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước — Quyết định 33/2011/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 04/01/2016 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 14/QĐ-UBND · 04/01/2016
Đắk Lắk Ban hành 21/10/2011 Hiệu lực 31/10/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 33/2011/QĐ-UBND › Chương 3 › Điều 15
Đọc toàn văn

Điều 15. Tiêu hủy tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước

1. Việc tiêu hủy tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước thuộc độ “Tuyệt mật”, “Tối mật” và “Mật” ở các cơ quan, tổ chức trong tỉnh do Giám đốc Sở (hoặc tương đương) quyết định (đối với mật mã thực hiện theo quy định của Ban Cơ yếu Chính phủ).

2. Trong quá trình tiêu hủy tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước phải bảo đảm yêu cầu không để lộ, lọt bí mật Nhà nước. Tiêu hủy vật thuộc phạm vi bí mật Nhà nước phải làm thay đổi hình dạng và tính năng, tác dụng. Tiêu hủy tài liệu phải đốt, xén, nghiền nhỏ đảm bảo không thể phục hồi được.

3. Trong trường hợp đặc biệt không có điều kiện tổ chức tiêu hủy tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước theo các quy định trên, nếu tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước không được tiêu hủy ngay sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho an ninh, quốc phòng hoặc các lợi ích khác của nhà nước thì người đang quản lý tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước đó được quyền tự tiêu hủy nhưng ngay sau đó phải báo cáo bằng văn bản với người đứng đầu cơ quan, tổ chức và cơ quan Công an cùng cấp. Nếu việc tự tiêu hủy tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước không có lý do chính đáng thì người tự tiêu hủy phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Thanh lý, tiêu hủy trong các trường hợp:

a) Theo đề nghị của cơ quan ban hành tài liệu gốc;

b) Hết giá trị sử dụng (giá trị mật), hết thời hạn;

c) Có quyết định thanh lý, tiêu hủy của người có thẩm quyền;

Phải có Hội đồng và biên bản thanh lý, tiêu hủy tại bộ phận bảo mật.