vanban.org

Điều 22. Giai đoạn lập và thông báo Báo cáo kết quả kiểm tra — Quyết định 32/2007/QĐ-BTC

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 23/10/2014 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 01/04/2021 Thay thế: 09/2021/TT-BTC · 25/01/2021 Thay thế: 157/2014/TT-BTC · 23/10/2014
Bộ Tài chính Ban hành 15/05/2007 Hiệu lực 30/05/2007 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 phiên bản · 19 năm
Quyết định số 32/2007/QĐ-BTC Về việc ban hành "Quy chế kiểm Soát chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán" · 32/2007/QĐ-BTC
01/04/202109/2021/TT-BTCSửa đổi Đang xem 23/10/2014157/2014/TT-BTCSửa đổi 30/05/2007Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 32/2007/QĐ-BTC › Chương III › Điều 22
Đọc toàn văn

Điều 22. Giai đoạn lập và thông báo Báo cáo kết quả kiểm tra

1. Trước khi phát hành Biên bản kiểm tra hoặc Báo cáo kết quả kiểm tra, Đoàn kiểm tra cần tổ chức cuộc họp để thông báo kết luận của mình với Ban lãnh đạo của đối tượng được kiểm tra. Sau khi thảo luận và nhất trí, hai bên cùng ký vào Biên bản kiểm tra hoặc Báo cáo kết quả kiểm tra. Nếu có điểm chưa nhất trí cũng được ghi rõ trong Biên bản kiểm tra hoặc Báo cáo kết quả kiểm tra.

Kết thúc đợt kiểm tra, Trưởng Đoàn kiểm tra phải gửi cho cơ quan chịu trách nhiệm kiểm tra, người hành nghề kế toán và doanh nghiệp được kiểm tra Biên bản kiểm tra hoặc Báo cáo kết quả kiểm tra trong vòng 15 ngày kể từ ngày kết thúc đợt kiểm tra. Ngày ghi trên Báo cáo  kết quả kiểm tra hoặc Biên bản kiểm tra là ngày họp thông qua kết luận kiểm tra.

2. Báo cáo kết quả kiểm tra hoặc Biên bản kiểm tra cần phải có các nội dung sau:

- Mục đích, phạm vi kiểm tra, các giới hạn kiểm tra (nếu có);

- Mô tả khái quát doanh nghiệp được kiểm tra và đặc điểm chung của hệ thống kiểm soát chất lượng của doanh nghiệp;

- Nêu rõ trách nhiệm của doanh nghiệp được kiểm tra là phải thiết kế và thực hiện hệ thống kiểm soát chất lượng phù hợp với yêu cầu của chuẩn mực nghề nghiệp;

- Nêu rõ trách nhiệm của Đoàn kiểm tra là phải kiểm tra và đánh giá việc thiết kế và thực hiện hệ thống kiểm soát chất lượng của đơn vị được kiểm tra dựa trên công việc kiểm tra;

- Nêu rõ là cuộc kiểm tra được thực hiện tuân theo quy trình hướng dẫn tại Quy chế kiểm soát chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán do Bộ Tài chính ban hành;

- Mô tả các thủ tục kiểm tra đã thực hiện, bao gồm cả quá trình lựa chọn hợp đồng và những kết luận rút ra được từ các thủ tục kiểm tra;

- Mô tả  các hạn chế của hệ thống kiểm soát chất lượng và biện pháp giải quyết hoặc khắc phục, sửa chữa các hạn chế đó;

- Nêu ý kiến nhận xét, đánh giá về hệ thống kiểm soát chất lượng của doanh nghiệp có được thiết kế phù hợp với yêu cầu của Chuẩn mực nghề nghiệp về kiểm soát chất lượng hay không và hệ thống kiểm soát chất lượng đó có vận hành hữu hiệu trong suốt thời hạn kiểm tra hay không;

- Nêu rõ lý do, căn cứ đưa ra ý kiến nhận xét chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán có hạn chế hoặc có hạn chế nghiêm trọng, trong đó nêu cả những thiếu sót của hệ thống kiểm soát chất lượng và các kiến nghị sửa chữa khắc phục của Đoàn kiểm tra;

- Chỉ ra những thiếu sót đã có trong Báo cáo kết quả kiểm tra hoặc Biên bản kiểm tra lần trước nhưng vẫn tồn tại trong báo cáo lần này;

- Chỉ ra các hợp đồng được kiểm tra không đạt yêu cầu (trường hợp đưa ra nhận xét chất lượng dịch vụ có hạn chế hoặc có hạn chế nghiêm trọng);

- Mô tả các thiếu sót lớn, mang tính hệ thống và kiến nghị biện pháp giải quyết khắc phục sửa chữa.

3.  Các loại ý kiến nhận xét trong Báo cáo kết quả kiểm tra hoặc Biên bản kiểm tra

Tuỳ theo mức độ tuân thủ quy định pháp luật và chuẩn mực nghề nghiệp của doanh nghiệp được kiểm tra trong Báo cáo kết quả kiểm tra hoặc Biên bản kiểm tra,  Đoàn kiểm tra có thể đưa ra một trong 3 dạng ý kiến sau:

- Ý kiến nhận xét chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán tốt, không có sai phạm hoặc lưu ý đáng kể;

- Ý kiến nhận xét chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán đạt yêu cầu, không có sai phạm đáng kể, có một số sai phạm kèm theo các ý kiến lưu ý;

- Ý kiến nhận xét chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán có hạn chế hoặc hạn chế nghiêm trọng, có nhiều sai phạm. Trường hợp này sẽ thuộc đối tượng được kiểm tra chất lượng vào năm tiếp theo.

Để xác định loại ý kiến đưa ra trong Báo cáo kết quả kiểm tra hoặc Biên bản kiểm tra, trưởng Đoàn kiểm tra phải xem xét các vấn đề sau:

a) Bị giới hạn kiểm tra: Như phạm vi kiểm tra bị giới hạn, thời gian kiểm tra không đủ, người có thẩm quyền của đơn vị không bố trí đủ thời gian làm việc, phương tiện, điều kiện bị hạn chế làm cho một số thủ tục kiểm tra không thực hiện được thì Đoàn kiểm tra phải nêu rõ giới hạn kiểm tra;

b) Bản chất và mức độ nghiêm trọng của các tồn tại, thiếu sót khi thực hiện các hợp đồng dịch vụ.

Mục tiêu quan trọng nhất của một hệ thống kiểm soát chất lượng là giúp cho doanh nghiệp có sự đảm bảo hợp lý trong việc tuân thủ pháp luật và các chuẩn mực nghề nghiệp trong quá trình thực hiện dịch vụ kế toán, kiểm toán trên các khía cạnh trọng yếu. Khi Đoàn kiểm tra xét thấy có dấu hiệu rõ ràng cho thấy các hợp đồng dịch vụ được thực hiện không tuân thủ pháp luật và các chuẩn mực nghề nghiệp trên các khía cạnh trọng yếu, Đoàn kiểm tra cần xác định nguyên nhân của sự không tuân thủ đó.

Các nguyên nhân đó có thể là: 

- Thiếu sót liên quan đến một ngành nghề đặc biệt mà doanh nghiệp không có kinh nghiệm về ngành nghề đó và không thực hiện đào tạo hoặc không sử dụng dịch vụ tư vấn hoặc trợ giúp từ các chuyên gia về ngành đó;

- Thiếu sót liên quan đến việc áp dụng chuẩn mực nghề nghiệp mới ban hành mà  doanh nghiệp chưa cập nhật vào chương trình kiểm toán hoặc chưa phổ biến, hướng dẫn cho cán bộ, nhân viên hoặc không kiểm soát được việc thực hiện theo yêu cầu của các chuẩn mực đó;

- Thiếu sót do các chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng doanh nghiệp đã xây dựng chưa phù hợp và vận hành không hữu hiệu;

- Thiếu sót thường xảy ra ở các doanh nghiệp tương tự về quy mô và tính chất hoạt động.

Việc không tuân thủ chuẩn mực nghề nghiệp ở tất cả các khía cạnh trọng yếu trong một hợp đồng dịch vụ có thể là do lỗi của một cá nhân. Tuy nhiên, nếu thiếu sót này là do thiếu sự kiểm soát và cũng xảy ra tương tự đối với các hợp đồng khác, thì Đoàn kiểm tra sẽ phải xem xét kỹ việc đưa ra ý kiến nhận xét chất lượng dịch vụ có hạn chế hoặc có hạn chế nghiêm trọng.

Đoàn kiểm tra cần phải xem xét tính đại diện và bao trùm của thiếu sót, ảnh hưởng của nó đối với việc tuân thủ chuẩn mực nghề nghiệp trên giác độ tổng thể để đưa ra ý kiến kết luận cho phù hợp.

4. Nhận xét, đánh giá của Đoàn kiểm tra về các thiếu sót, tồn tại phải đưa ra được các kiến nghị, đề xuất sau:

(1) Biện pháp khắc phục phù hợp liên quan đến từng hợp đồng kiểm toán và từng kiểm toán viên.

(2) Những điểm cần bổ sung, sửa đổi các chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng.

(3) Biện pháp kỷ luật, xử lý đối với những người không tuân thủ các chính sách và thủ tục của doanh nghiệp được kiểm tra, đặc biệt là những người vi phạm có hệ thống.

(4) Khi kết quả kiểm tra cho thấy Báo cáo kiểm toán không phù hợp với tình hình thực tế hoặc doanh nghiệp được kiểm tra không thực hiện đầy đủ các thủ tục kiểm toán cần thiết khi thực hiện hợp đồng kiểm toán, Đoàn kiểm tra cần xác định các thủ tục cần thực hiện bổ sung cho phù hợp để đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật và chuẩn mực nghề nghiệp.