Điều 21. Quy trình kiểm tra chất lượng dịch vụ kế toán
1. Quy trình kiểm tra chất lượng dịch vụ kế toán cũng được tiến hành theo 2 nội dung là kiểm tra hệ thống và kiểm tra kỹ thuật theo quy định cho kiểm tra chất lượng dịch vụ kiểm toán với các bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với từng loại dịch vụ kế toán mà người hành nghề kế toán và doanh nghiệp kế toán cung cấp, bao gồm:
- Làm kế toán;
- Làm kế toán trưởng;
- Tổng hợp thông tin tài chính, trong đó có lập báo cáo tài chính;
- Thiết lập cụ thể hệ thống kế toán cho đơn vị kế toán;
- Cung cấp và tư vấn áp dụng công nghệ thông tin về kế toán;
- Bồi dưỡng nghiệp vụ kế toán, cập nhật kiến thức kế toán;
- Tư vấn tài chính;
- Kê khai thuế;
- Các dịch vụ khác về kế toán theo quy định của pháp luật.
2. Khi kiểm tra chất lượng dịch vụ kế toán, Đoàn kiểm tra phải thu thập đầy đủ bằng chứng thích hợp làm cơ sở đưa ra ý kiến nhận xét về:
- Việc tuân thủ các chuẩn mực và chế độ kế toán, các quy định của pháp luật, các chính sách và thủ tục quy định của người hành nghề kế toán và doanh nghiệp kế toán;
- Kết quả dịch vụ kế toán do người hành nghề kế toán và doanh nghiệp kế toán cung cấp có trung thực, hợp lý và phù hợp với tình hình cụ thể của khách hàng hay không.
3. Khi kiểm tra chất lượng dịch vụ kế toán, Đoàn kiểm tra cần xem xét các giấy tờ, hồ sơ, tài liệu và thu thập các thông tin phù hợp với kiểm tra chất lượng từng dịch vụ kế toán, như:
- Đối với dịch vụ làm kế toán và làm kế toán trưởng, Đoàn kiểm tra phải xem xét tiêu chuẩn, điều kiện của người hành nghề kế toán, người cung cấp dịch vụ kế toán trưởng; phải kiểm tra chứng từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính và việc tuân thủ các quy định của pháp luật về kế toán.
- Đối với dịch vụ thiết lập cụ thể hệ thống kế toán cho đơn vị kế toán: Đoàn kiểm tra phải xem xét hệ thống kế toán mà người hành nghề kế toán hoặc doanh nghiệp kế toán đã thiết lập cho khách hàng có đảm bảo tuân thủ chuẩn mực và chế độ kế toán, chính sách tài chính, thuế có liên quan theo quy định hiện hành và có phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất, kinh doanh, đặc điểm tổ chức quản lý của đơn vị được cung cấp dịch vụ. Đồng thời Đoàn kiểm tra phải lấy ý kiến nhận xét, phản hồi của khách hàng được cung cấp dịch vụ, của đơn vị cấp trên của khách hàng.
- Đối với dịch vụ bồi dưỡng nghiệp vụ kế toán, cập nhật kiến thức kế toán: Đoàn kiểm tra phải đánh giá chất lượng hoạt động này trên cơ sở xem xét nội dung, chương trình, hình thức, thời gian học, chất lượng giảng viên, các tài liệu liên quan đến bồi dưỡng, cập nhật, kết quả bài kiểm tra (nếu có) và phiếu nhận xét, đánh giá của học viên được bồi dưỡng, cập nhật.
4. Thông tin, tài liệu mà Đoàn kiểm tra cần thu thập, kiểm tra để đánh giá chất lượng dịch vụ kế toán có thể hình thành từ các nguồn như:
- Thu thập thông tin, tài liệu về kết quả dịch vụ cung cấp thông qua báo cáo tài chính và quyết toán thuế mà người hành nghề kế toán hoặc doanh nghiệp kế toán và khách hàng đã nộp cho cơ quan thuế và các cơ quan khác theo quy định. Đặc biệt là các Báo cáo tài chính và quyết toán thuế do cơ quan thuế hoặc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tài chính) kiểm tra, phát hiện có sai sót trọng yếu khi kiểm tra thì Đoàn kiểm tra phải xem xét và xác định nguyên nhân, nội dung của sai sót và trách nhiệm của khách hàng, người hành nghề kế toán và doanh nghiệp kế toán.
- Thu thập thông tin, tài liệu về dịch vụ cung cấp thông qua báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán ngân sách mà người hành nghề kế toán hoặc doanh nghiệp kế toán cung cấp và khách hàng (là đơn vị hành chính sự nghiệp) đã nộp cho các cơ quan theo quy định. Đặc biệt là các báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán ngân sách của khách hàng khi kiểm tra, xét duyệt quyết toán do cơ quan có thẩm quyền thực hiện phát hiện có sai sót trọng yếu. Khi đó, Đoàn kiểm tra cần phải xem xét và xác định nguyên nhân, mức độ sai sót và trách nhiệm của khách hàng và người hành nghề kế toán hoặc doanh nghiệp kế toán.
- Các sai sót của các doanh nghiệp, đơn vị hành chính sự nghiệp được phát hiện trong quá trình kiểm tra, thanh tra, kiểm toán của các cơ quan chức năng có liên quan đến kết quả dịch vụ cung cấp mà người hành nghề kế toán hoặc doanh nghiệp kế toán đã cung cấp.
- Các bất đồng, tranh chấp giữa người hành nghề kế toán hoặc doanh nghiệp kế toán với khách hàng.
5. Quy trình kiểm tra chất lượng dịch vụ tổng hợp thông tin tài chính
- Theo Chuẩn mực kiểm toán số 930 “Dịch vụ tổng hợp thông tin tài chính”, dịch vụ tổng hợp thông tin tài chính là dịch vụ bao gồm việc lập một phần hoặc toàn bộ báo cáo tài chính hoặc việc thu thập, phân loại và tổng hợp các thông tin tài chính khác.
Khi kiểm tra chất lượng dịch vụ tổng hợp thông tin tài chính, Đoàn kiểm tra cần thực hiện theo các bước công việc sau:
(1) Xem xét, đánh giá việc thiết kế và thực hiện các chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng dịch vụ kế toán để đảm bảo hợp lý là doanh nghiệp và người hành nghề kế toán của doanh nghiệp tuân thủ các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp. Các chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng dịch vụ có giúp cho doanh nghiệp xác định và đánh giá được những trường hợp cụ thể và các quan hệ có thể tạo ra những nguy cơ gây ảnh hưởng đến tính độc lập và có hành động phù hợp để loại trừ hoặc giảm nhẹ những nguy cơ gây ảnh hưởng đến tính độc lập đó đến mức có thể chấp nhận được bằng cách sử dụng các biện pháp bảo vệ, hoặc từ chối dịch vụ nếu thấy cần thiết, Đoàn kiểm tra cần thực hiện các thủ tục như:
(1.1) Đoàn kiểm tra cần xem xét kỹ lưỡng những trường hợp nếu như trong quá trình cung cấp dịch vụ có sự hạn chế về tính độc lập thì người hành nghề kế toán có tìm mọi cách loại bỏ hoặc giảm sự hạn chế này xuống mức có thể chấp nhận được không và nếu không thể loại bỏ hoặc giảm được thì người hành nghề kế toán có nêu rõ điều này trong Báo cáo kết quả dịch vụ theo quy định của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán hay không.
(1.2) Đoàn kiểm tra cần xem xét xem doanh nghiệp kế toán có xác nhận bằng văn bản về tính tuân thủ các chính sách và thủ tục của doanh nghiệp về tính độc lập đối với người hành nghề kế toán được yêu cầu là phải độc lập theo yêu cầu của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán hay không.
(1.3) Đoàn kiểm tra phải xem xét xem việc thiết lập và thực hiện các chính sách và thủ tục của doanh nghiệp kế toán về chấp nhận và tiếp tục duy trì các quan hệ với khách hàng và các hợp đồng dịch vụ tổng hợp thông tin tài chính.
(1.4) Đoàn kiểm tra cần xem xét doanh nghiệp kế toán có đủ người hành nghề kế toán có năng lực, trình độ chuyên môn cần thiết để thực hiện dịch vụ tổng hợp thông tin tài chính cho phù hợp với từng loại khách hàng.
(2) Kiểm tra các điều khoản của hợp đồng
Khi xem xét hợp đồng dịch vụ tổng hợp thông tin tài chính đã ký giữa người hành nghề kế toán hoặc doanh nghiệp kế toán và khách hàng, Đoàn kiểm tra cần kiểm tra xem các hợp đồng này có đủ các điều khoản theo quy định hay không, cụ thể:
- Hợp đồng có đề cập đến tính chất công việc và có nêu rõ dịch vụ này không phải là kiểm toán hay soát xét Báo cáo tài chính, do đó không có bất cứ sự đảm bảo nào được đưa ra;
- Hợp đồng có nêu rõ trách nhiệm Ban Giám đốc về tính chính xác và đầy đủ của các thông tin cung cấp cho người hành nghề kế toán hoặc doanh nghiệp kế toán để đảm bảo tính chính xác và đầy đủ của các thông tin được lập trên báo cáo tài chính;
- Hợp đồng có nêu rõ mục đích và phạm vi sử dụng các thông tin để tổng hợp, hình thức báo cáo và trách nhiệm của người ký tên trên Báo cáo kết quả dịch vụ hay không.
(3) Kiểm tra kế hoạch
Đoàn kiểm tra phải xem xét xem người hành nghề kế toán hoặc doanh nghiệp kế toán có lập kế hoạch cho công việc của mình sao cho công việc này được thực hiện hiệu quả theo đúng quy định hay không.
(4) Kiểm tra hồ sơ dịch vụ
Đoàn kiểm tra phải kiểm tra xem người hành nghề kế toán và doanh nghiệp kế toán có thu thập, phân loại và lưu giữ vào hồ sơ dịch vụ tất cả những tài liệu quan trọng để chứng minh cho công việc đã được thực hiện theo chuẩn mực kiểm toán số 930 “Dịch vụ tổng hợp thông tin tài chính” và theo các điều khoản của hợp đồng.
(5) Kiểm tra các thủ tục mà người hành nghề kế toán và doanh nghiệp kế toán phải thực hiện khi cung cấp dịch vụ tổng hợp thông tin tài chính.
Theo quy định để tổng hợp thông tin tài chính, người hành nghề kế toán phải có những hiểu biết về hoạt động và lĩnh vực mà khách hàng đang hoạt động và phải nắm được những nguyên tắc, phương pháp kế toán áp dụng trong lĩnh vực đó, cũng như nội dung và hình thức của các thông tin tổng hợp cần đưa ra. Do đó, để có căn cứ đánh giá xem người hành nghề kế toán có đủ trình độ, chuyên môn cần thiết khi thực hiện dịch vụ này, Đoàn kiểm tra cần:
- Thông qua kinh nghiệm của người hành nghề kế toán với khách hàng hoặc thông qua việc trao đổi với khách hàng yêu cầu cung cấp dịch vụ để xác định xem người hành nghề kế toán có được những hiểu biết chung về bản chất của các nghiệp vụ của khách hàng, chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán áp dụng trong việc lập và trình bày thông tin tài chính hay không;
- Xem xét hồ sơ dịch vụ do người hành nghề kế toán hoặc doanh nghiệp kế toán lập và lưu giữ liên quan đến dịch vụ tổng hợp thông tin tài chính về các vấn đề sau:
+ Tài liệu, giấy tờ mà người hành nghề kế toán ghi lại khi thực hiện thủ tục phỏng vấn Ban Giám đốc để xác định độ tin cậy và tính đầy đủ của các thông tin được cung cấp;
+ Các tài liệu lưu trong hồ sơ dịch vụ về đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, đặc biệt là các tài liệu làm cơ sở cho người hành nghề kế toán đánh giá có thể tin cậy vào hệ thống kiểm soát nội bộ.
+ Các tài liệu liên quan đến kiểm tra bất kỳ dữ liệu nào và kiểm tra căn cứ của các giải thích đưa ra của người hành nghề kế toán trong quá trình tổng hợp thông tin tài chính.
- Đoàn kiểm tra cần đặc biệt chú ý trường hợp người hành nghề kế toán nhận thấy các thông tin do Ban Giám đốc cung cấp là không đúng, không đầy đủ hay không thỏa đáng để tổng hợp thông tin tài chính thì người hành nghề kế toán có thực hiện các thủ tục theo quy định của Chuẩn mực kiểm toán số 930 và có yêu cầu Ban Giám đốc cung cấp các thông tin bổ sung hay không. Hồ sơ dịch vụ có lưu các giấy từ chứng minh các thủ tục mà người hành nghề kế toán đã làm hay không;
- Đoàn kiểm tra phải kiểm tra hồ sơ dịch vụ xem người hành nghề kế toán có xem xét lại các thông tin đã được tổng hợp để đảm bảo rằng thông tin được trình bày với hình thức phù hợp và nội dung không có sai sót trọng yếu. Các sai sót trong trường hợp này có thể gồm:
+ Các sai sót về việc áp dụng không đúng chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán.
+ Không trình bày chuẩn mực kế toán sử dụng và những khác biệt so với chuẩn mực này đã phát hiện ra.
+ Thiếu thông tin về các yếu tố trọng yếu mà người hành nghề kế toán đã biết.
- Trường hợp người hành nghề kế toán phát hiện ra các sai sót trọng yếu, đã đề nghị, thuyết phục đơn vị sửa chữa và nếu đơn vị không sửa chữa làm cho thông tin tài chính bị sai lệch thì người hành nghề kế toán hoặc doanh nghiệp kế toán có ngừng hợp đồng hay không.
- Đoàn kiểm tra phải xem xét hồ sơ dịch vụ có thư giải trình của Ban Giám đốc mà người hành nghề kế toán hoặc doanh nghiệp kế toán phải yêu cầu giải trình để xác nhận về trách nhiệm của họ trong việc trình bày các thông tin tài chính và sự phê duyệt của họ đối với báo cáo tài chính. Xác nhận của Ban Giám đốc có nêu rõ ràng những thông tin, tài liệu kế toán đã cung cấp là đầy đủ, chính xác, tất cả các thông tin quan trọng và liên quan đều đã được cung cấp cho người hành nghề kế toán hoặc doanh nghiệp kế toán.
(6) Kiểm tra việc lập và lưu giữ Báo cáo kết quả dịch vụ tổng hợp thông tin tài chính.
Đoàn kiểm tra phải xem xét người hành nghề kế toán và doanh nghiệp kế toán có lập Báo cáo kết quả dịch vụ tổng hợp thông tin tài chính không. Nếu có thì lập báo cáo này có đầy đủ các nội dung theo quy định của Chuẩn mực kiểm toán số 930 “Dịch vụ tổng hợp thông tin tài chính” hay không.