Điều 12. Bồi thường đối với vật nuôi là thủy sản không thể di chuyển quy định tại khoản 4 điều 103 Luật Đất đai
1. Các trường hợp không thể di chuyển được bao gồm:
a) Không có vị trí để tiếp tục nuôi trồng: Người có đất bị thu hồi không có cơ sở đủ điều kiện nuôi trồng thủy sản để di chuyển vật nuôi là thủy sản đến để tiếp tục nuôi trồng đến khi thu hoạch; Cơ quan nhà nước thu hồi đất không bố trí được cơ sở đủ điều kiện nuôi trồng thủy sản để người bị thu hồi đất di chuyển vật nuôi là thủy sản đến để tiếp tục nuôi trồng đến khi thu hoạch;
b) Đặc tính của loài thời gian ương dưỡng ngắn không đủ điều kiện hỗ trợ di chuyển về con giống;
c) Người có đất bị thu hồi có cơ sở đủ điều kiện nuôi trồng thủy sản ở ngoài tỉnh, nhưng vật nuôi là thủy sản nằm trong danh mục động vật thủy sản thuộc diện phải kiểm dịch khi vận chuyển ra khỏi địa bàn cấp tỉnh không đáp ứng các yêu cầu quy định tại Điều 54 Luật Thú y năm 2015 và pháp luật thú ý hiện hành.
2. Đối tượng áp dụng: Vật nuôi là thủy sản nuôi theo hình thức nuôi ao, bể, lồng bè; nuôi thả trên hồ chứa, đầm, nuôi trong đăng, quây trên đầm, sông, suối…
3. Mức bồi thường
a) Mức bồi thường được xác định như sau:
| Mức bồi thường | = | Số lượng con giống | x | Đơn giá/ con giống |
Hoặc:
| Mức bồi thường | = | Số lượng (kg giống) | x | Đơn giá 1kg |
(Với đối tượng xác định theo kg)
b) Đối với trường hợp không xác định được số con giống hoặc số kg giống thì xác định như sau:
Căn cứ định mức kinh tế - kỹ thuật tại các Quyết định số 3276/QĐ-BNN-KHCN ngày 24/10/2008, Quyết định số 724/QĐ-BNN-KHCN ngày 09/3/2020, Quyết định số 5183/QĐ-BNN-KN ngày 06/12/2023 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các Quyết định quy định về định mức kinh tế kỹ thuật khuyến nông khác hiện hành làm cơ sở xác định mức bồi thường.