Điều 14. Nguyên tắc kiểm tra hoạt động điện lực, sử dụng điện
1. Kiểm tra viên điện lực chỉ thực hiện kiểm tra khi được cấp trên giao. Trường hợp phát hiện có hành vi vi phạm thì được phép kiểm tra đột xuất nhưng phải báo cáo kịp thời cho người quản lý trực tiếp.
2. Khi tiến hành kiểm tra, bên kiểm tra phải tổ chức nhóm kiểm tra hoặc đoàn kiểm tra có nhóm trưởng hoặc trưởng đoàn kiểm tra, trong đó ít nhất phải có một Kiểm tra viên điện lực. Kiểm tra viên điện lực phải xuất trình thẻ Kiểm tra viên điện lực và thông báo nội dung kiểm tra cho bên được kiểm tra biết.
3. Việc kiểm tra phải được tiến hành với sự có mặt của bên được kiểm tra. Trường hợp bên được kiểm tra vắng mặt thì Kiểm tra viên điện lực phải mời hai người làm chứng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và đại diện chính quyền địa phương để chứng kiến việc kiểm tra.
4. Khi phát hiện hành vi trộm cắp điện quả tang, Kiểm tra viên điện lực được phép thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ hiện trường trước khi xuất trình thẻ kiểm tra viên và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc làm của mình.
5. Kiểm tra viên điện lực phải lập biên bản và ghi đầy đủ các nội dung đã kiểm tra theo mẫu tại Phụ lục 2 hoặc Phụ lục 3 hoặc Phụ lục 4 của Quy định này. Trong thời hạn hai ngày làm việc, biên bản phải được chuyển cho bên bán điện hoặc cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động điện lực và sử dụng điện để giải quyết theo thẩm quyền.