Điều 16. Hỗ trợ n hà ở, công trình phục vụ sinh hoạt không được phép xây dựng theo quy định của pháp luật nhưng đã xây dựng trên đất có đủ điều kiện được bồi thường về đất và không bị lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính thì được xem xét hỗ trợ theo quy định sau đây
1. Đối với khu vực đô thị
a) Hỗ trợ bằng 100% giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt đối với trường hợp xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004;
b) Hỗ trợ bằng 80% giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt đối với trường hợp xây dựng từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2006;
c) Trường hợp xây dựng sau ngày 01 tháng 7 năm 2006 không được hỗ trợ.
2. Đối với khu vực nông thôn
a) Hỗ trợ bằng 100% giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt đối với trường hợp xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004;
b) Hỗ trợ bằng 80% giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt đối với trường hợp xây dựng từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2006;
c) Hỗ trợ bằng 70% giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt đối với trường hợp xây dựng từ sau ngày 01 tháng 7 năm 2006 và trước ngày 01 tháng 7 năm 2014;
d) Trường hợp xây dựng sau ngày 01 tháng 7 năm 2014 không được hỗ trợ.
3. Việc xác định giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được áp dụng theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh về giá nhà, giá vật kiến trúc trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
4. Người có nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt gắn liền với đất thu hồi tự khai và nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi để tổng hợp, kiểm tra, rà soát, xác định thời điểm tạo lập công trình xây dựng không phép trên đất thu hồi đối với từng trường hợp và chuyển đến đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để đề xuất mức hỗ trợ trình Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt.