vanban.org

Điều 8. Tiêu chí phân cấp quản lý, khai thác công trình thủy lợi — Quyết định 29/2014/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 08/10/2018 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 08/10/2018 Thay thế: 14/2018/QĐ-UBND · 28/09/2018 Sửa đổi, bổ sung: 24/2016/QĐ-UBND · 18/08/2016
Hậu Giang Ban hành 10/10/2014 Hiệu lực 20/10/2014 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 6 phiên bản · 21 năm
Quyết định số 14/2018/QĐ-UBND Ban hành Quy định phân cấp quản lý, khai thác và bảo vệ các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Hậu Giang · 14/2018/QĐ-UBND
Quyết định số 29/2014/QĐ-UBND Ban hành quy định về việc quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Hậu Giang · 29/2014/QĐ-UBND
08/10/201814/2018/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 28/08/201624/2016/QĐ-UBNDSửa đổi 20/10/2014Bản gốcThay thế
Quyết định số 25/2005/QĐ-UBND Quy định về việc khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Hậu Giang · 25/2005/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 29/2014/QĐ-UBND › Chương II › Mục 2 › Điều 8
Đọc toàn văn

Điều 8. Tiêu chí phân cấp quản lý, khai thác công trình thủy lợi

Các công trình, hệ thống công trình thủy lợi không lớn, có đặc điểm, tính chất kỹ thuật đơn giản, quy mô như tiêu chí dưới đây có thể được phân cấp cho Tổ chức hợp tác dùng nước, hộ gia đình, cá nhân quản lý để tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả công trình:

1. Các công trình đầu mối độc lập:

Trạm bơm điện: Phục vụ trong phạm vi cấp xã có diện tích tưới, tiêu thiết kế không vượt quá 500 ha.

2. Đối với công trình, kênh mương thuộc hệ thống công trình thủy lợi đầu mối do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý, khai thác và bảo vệ:

Các công trình, kênh mương thuộc hệ thống công trình thủy lợi do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý, khai thác và bảo vệ, có thể xem xét phân cấp cho các tổ chức hợp tác dùng nước, hộ gia đình, cá nhân quản lý nhưng có diện tích không vượt 500 ha.

3. Đối với các công trình đầu mối là các cống ngăn mặn, giữ ngọt, cống dưới đê: Tùy theo điều kiện thực tế để giao nhiệm vụ quản lý, vận hành, đảm bảo phù hợp với các quy định của Luật Đê điều năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành.