Điều 44. Phối hợp tổ chức thực hiện kiểm tra, thanh tra
1. Căn cứ vào chương trình kế hoạch thanh tra, kiểm tra hằng năm đã được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt, Ban Quản lý các KCN có trách nhiệm xây dựng kế hoạch cụ thể hàng quý và tổ chức điều phối thực hiện; trên cơ sở đó, các cơ quan chức năng triển khai kế hoạch thanh tra, kiểm tra và phối hợp thực hiện.
a) Trường hợp trong một năm chỉ có một cơ quan vào thanh tra, kiểm tra một doanh nghiệp thì thủ trưởng cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra ra quyết định và tổ chức thực hiện cuộc thanh tra, kiểm tra đó.
b) Trường hợp trong một năm có từ hai cơ quan trở lên cùng tiến hành thanh tra, kiểm tra một doanh nghiệp thì Ban Quản lý các KCN căn cứ tình hình cụ thể nội dung kiểm tra hay thanh tra quyết định:
- Quyết định thành lập Đoàn kiểm tra. Nội dung, kế hoạch kiểm tra do từng đơn vị đề nghị, trưởng đoàn kiểm tra tổng hợp chung và tổ chức thực hiện.
- Trình chủ tịch UBND tỉnh quyết định thành lập Đoàn thanh tra và phê duyệt nội dung, kế hoạch thanh tra.
2. Quyết định thanh tra, kiểm tra phải căn cứ vào chương trình, kế hoạch đã được phê duyệt hoặc hoặc đột xuất khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật xảy ra.
a) Chậm nhất là ba ngày kể từ ngày ký, quyết định thanh tra phải được gởi cho đối tượng thanh tra, trừ trường hợp thanh tra đột xuất. Quyết định thanh tra phải được công bố chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày ra quyết định thanh tra.
b) Quyết định kiểm tra phải thông báo cho doanh nghiệp được kiểm tra ít nhất là ba ngày trước khi tiến hành kiểm tra, trừ trường hợp kiểm tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật xảy ra.
c) Việc kiểm tra, thanh tra đột xuất chỉ được tiến hành khi phát hiện doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền giao. Căn cứ vào quyết định phê duyệt của thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước, Chánh Thanh tra các cấp, các ngành ra quyết định thanh tra đột xuất. Trường hợp cần thiết, thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thanh tra đột xuất. Quyết định kiểm tra đột xuất do thủ trưởng cơ quan có chức năng kiểm tra ban hành.
d) Việc phúc tra chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng kết luận thanh tra tại doanh nghiệp không chính xác, không khách quan hoặc phát hiện có tình tiết mới. Quyết định phúc tra do Chủ tịch UBND tỉnh ban hành.
đ) Ngoài việc phúc tra nêu ở điểm c khoản này, công tác kiểm tra việc thực hiện các nội dung vi phạm cần khắc phục của doanh nghiệp sau lần kiểm tra, thanh tra trước đó được gọi là kiểm tra việc thực hiện kiến nghị sau thanh tra, kiểm tra. Quyết định kiểm tra việc thực hiện kiến nghị sau thanh tra, kiểm tra do thủ trưởng cơ quan đã ban hành quyết định kiểm tra, thanh tra trước đó ban hành.
3. Kết thúc thanh tra, kiểm tra, Trưởng Đoàn thanh tra, kiểm tra phải báo cáo kết quả bằng văn bản cho người ra quyết định thanh tra, kiểm tra. Chậm nhất sau 15 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả thanh tra, kiểm tra, Thủ trưởng cơ quan ra quyết định thanh tra, kiểm tra phải ra văn bản kết luận thanh tra, kiểm tra. Kết luận thanh tra, kiểm tra là văn bản xác định nội dung đã thanh tra, kiểm tra tại doanh nghiệp, là cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các quyết định xử lý vụ việc. Kết luận thanh tra, kiểm tra này được công bố cho đơn vị được thanh tra, kiểm tra; đồng thời báo cáo UBND tỉnh, Ban Quản lý các KCN, Chánh Thanh tra tỉnh.
4. Giám đốc doanh nghiệp có quyền từ chối việc thanh tra, kiểm tra trái với quy định của pháp luật; có quyền khiếu nại các quyết định, kết luận về thanh tra, kiểm tra không đúng pháp luật; đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc từ chối hoặc khiếu nại của mình.
5. Trách nhiệm của người thực hiện thanh tra, kiểm tra:
a) Trong quá trình kiểm tra, nếu thấy vụ việc cần phải được tiến hành thanh tra, thì trưởng đoàn kiểm tra phải báo cáo người đã ra quyết định kiểm tra để tiến hành thanh tra đúng theo trình tự quy định.
b) Trong quá trình thanh tra, kiểm tra nếu phát hiện doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm pháp luật cấu thành tội phạm thì người được giao nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra phải báo cáo cấp có thẩm quyền để chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra xử lý theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
c) Người được giao nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra có trách nhiệm quản lý và sử dụng đúng mục đích các chứng từ, tại liệu do doanh nghiệp cung cấp; chấp hành nghiêm chỉnh quy chế bảo mật, không được cung cấp cho người không có trách nhiệm các thông tin, tài liệu có liên quan đến cuộc thanh tra, kiểm tra.
d) Nghiêm cấm người được giao nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra sách nhiễu gây khó khăn, phiền hà, cố ý kết luận vụ việc sai lệch với sự thật, bao che người có hành vi vi phạm, đưa các yêu cầu trái pháp luật đối với doanh nghiệp được thanh tra, kiểm tra; hoặc truy ép doanh nghiệp được thanh tra, kiểm tra trong công việc giải trình, trả lời chất vấn.